Văn bản Thánh Kinh:

Sau đây là gốc tích Đức Giêsu Kitô: bà Maria, Mẹ Người, đã thành hôn với ông Giuse. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. Ông Giuse, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: “Này ông Giuse, con cháu Đavít, đừng ngại đón Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai, và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân mình khỏi tội lỗi của họ”. Tất cả sự việc này đã xảy ra, là để ứng nghiệm lời xưa kia Chúa đã phán qua miêng ngôn sứ: “Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”. Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà.

Chú giải:

Nếu ai đã từng xem cuốn phim “Đức Giêsu thành Nadarét” của đạo diễn Franco Zeffirelli chắc còn nhớ phân cảnh thánh Giuse nằm mơ thấy đức Maria bị ném đá chết vì tội “ngoại tình”. Nếu không thì cũng đã có lần được xem một vở kịch diễn lại bài Tin Mừng hôm nay, trong đó có cảnh thánh Giuse khắc khoải, lo âu, dằn vặt trước sự kiện đức Maria mang thai mà ông chẳng biết nguyên cớ. Đó là những tình tiết lâm ly, bi đát, đầy kịch tính, làm khán thính giả bồi hồi xúc động, nhưng có lẽ không nằm trong nhãn giới của tác giả Tin Mừng. Cái đó, theo các nhà chú giải hiện nay, là do cách dịch không đúng về một vài từ trong văn bản.

1. Khúc mắc tâm tư

Lúc mở đầu bản văn bằng câu “Đây là gốc tích Đức Giêsu Kitô” và bằng chi tiết “Trước khi hai ông bà về chung sống, Maria đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần”, Mátthêu muốn chứng minh cho độc giả Do Thái của mình thấy làm sao Đấng Cứu Thế sinh ra thiếu cha trần gian mà vẫn thuộc về dòng dõi Do Thái và con cháu Đavít được (trong lúc Lc 1,26-38 thì trình bày mầu nhiệm cưu mang đồng trinh cho độc giả lương dân). Việc lạ lùng này, chắc hẳn đức Maria đã tỏ lộ cho người bạn đời yêu quý (bà chị họ Êlisabét mà còn được biết nữa là, vả lại sứ thần đâu có cấm: x. Lc 1, 39- 45). Với hai lý do : cho ông chia sẻ niềm vui và vinh dự được chọn làm mẹ Con Đấng Tối Cao, hai là để thánh Giuse khỏi nghĩ dông dài, nhất là rồi đây đức Maria sẽ vắng nhà nhiều tháng. Thế nhưng việc tỏ lộ này đặt thánh Giuse vào một hoàn cảnh khó xử.

Theo nhiều nhà chú giải Công giáo hiện đại, khi kết hôn với nhau, hai ông bà chắc dự tính sẽ có con với nhau một cách bình thường (Cựu Ước luôn cho hôn nhân là tốt đẹp và con cái là hồng ân cao cả, còn vô sinh vô hậu là tủi nhục lớn lao) đồng thời cầu mong con họ sẽ được Thiên Chúa chọn làm Đấng Thiên Sai như bao mộng ước của mọi gia đình Do Thái thời đó. Thế nhưng, đang lúc chưa chung sống, đức Maria đã được sứ thần báo tin cho biết Thiên Chúa đã chọn bà làm mẹ Đấng Thiên Sai nhưng bà sẽ sinh con một cách nhiệm lạ -do quyền lực Chúa Thánh Thần- vì người con đó chính là Con Thiên Chúa. Đây là điều mà Cựu Ước cũng như hai ông bà không thể ngờ nổi!

Đứng trước mầu nhiệm cao cả này, thánh Giuse đâm băn khoăn. Từ nay, Thiên Chúa đã can thiệp vào mối dây liên hệ của đôi bạn, đã sử dụng đức Maria như phương tiện để thực hiện kế hoạch lớn lao của Người. Từ nay đức Maria đã trở thành một vật thánh, thuộc quyền sở hữu của Đấng Tối Cao. Thánh Giuse tự nghĩ mình không có quyền động đến nàng nữa. Và dù không động đến nhưng nếu tiếp tục chung sống trong một nhà, tới lúc con nàng sinh ra, chắc thiên hạ sẽ nói là con của đôi bạn. Để cho ai nấy lầm tưởng như thế là một sự bất công với Thiên Chúa vì hài nhi là con của Người. Công bố chuyện này cho thiên hạ ư ? Ai mà tin nổi ! Có dấu chứng nào ? Vả lại Thiên Chúa đâu đã tỏ ý định hãy loan truyền cho bá tánh ! Thế là thánh Giuse dự tính ra đi, để Thiên Chúa đích thân giải quyết mọi chuyện… Ngài xử sự như bao người công chính trong Cựu Ước là run khiếp trước sự hiện diện của Đức Giavê (Môsê cởi giày trước bụi gai rực cháy, Isaia khiếp đảm trước sự xuất hiện của vị Thiên Chúa ba lần thánh), nên không dám đoạt lấy một thành quả bởi tay Người. (Công chính, công bình -hay just, juste trong tiếng Anh tiếng Pháp- có nghĩa là của ai thì trả cho người ấy, không vi phạm quyền lợi tha nhân). Chính cách dịch mới : “Giuse là người công chính và không muốn tiết lộ chuyện bà” hoàn toàn hỗ trợ cho lối giải thích vừa nói trên đây. (Từ Hy Lạp “deigmatisai” mà người ta thường dịch là “tố giác, bêu nhục” thì theo hai giáo phụ Origène và Eusèbe và một nhà chú giải hiện đại là linh mục dòng Tên Paul Jouon, không bao hàm ý nghĩa xấu mà chỉ có nghĩa là “tiết lộ, bày tỏ”).

2. Gỡ mối tơ vò

“Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông”. Thiên Chúa cuối cùng đã can thiệp : “Này ông Giuse, con cháu Đavít, đừng ngại đón Maria vợ ông về”. Đến đây, các nhà chú giải hiện nay đề nghị một cách dịch mới : “Vì vẫn biết người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai, nhưng ông phải đặt tên con trẻ”. Từ “vẫn biết” nói lên một sự thật mà Giuse đã rõ (nên đây không có vấn đề mặc khải mầu nhiệm cưu mang đồng trinh). Maria sẽ sinh con “nhưng” thánh Giuse sẽ đặt tên cho con trẻ : đặt tên (quyền của người cha) là thừa nhận kẻ được đặt tên như con của mình. Theo Do Thái, con đẻ hay con nuôi đều có giá trị như nhau trước pháp luật, nghĩa là con nuôi cũng hoàn toàn thuộc về dòng dõi cha nuôi với mọi quyền lợi và nghĩa vụ y như con đẻ. Cách giải quyết của Thiên Chúa thật tài tình: lợi dụng một điều khoản trong luật pháp Do Thái (con nuôi # con đẻ) (mà chắc Người đã xui khiến cho có), Thiên Chúa hoàn tất lời Thánh Kinh: Đấng Thiên Sai sẽ thuộc dòng dõi Đavít dù là con của một Trinh nữ, với Thiên Chúa là Cha.

Còn một lý do thực tế: cần phải tạm thời che giấu mầu nhiệm Ngôi Hai nhập thể (khó chấp nhận khi chưa có ngôn hành xác quyết của Đức Giêsu) bằng cách để thiên hạ lầm tưởng Giuse là cha đẻ của Người. Sự hiện diện của thánh Giuse trong ngôi nhà Nadarét còn cần thiết để bảo vệ thanh danh Đức Trinh Nữ cũng như để chăm sóc nuôi dưỡng Ấu Chúa và Mẹ Người.

Linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi, Tổng Giáo phận Huế.