Bài viết: Mart Nam Nhật, CSC
- DẪN NHẬP
Đối với bộ Kinh Thánh Ki-tô giáo thì sách ngôn sứ I-sai-a có vị trí đặc biệt. Một đằng vì sách này có số chương dài nhất trong bộ ngôn sứ, đằng khác sách này có tầm quan trọng về mặt lịch sử và thần học vì nó chứa đựng nhiều vấn đề và sứ điệp quan trọng. Theo các học giả, sách này không chỉ có một tác giả nhưng mà là nhiều tác giả với ba phần tương ứng với hoàn cảnh lịch sử riêng và trình thuật ngôn sứ riêng: I-sai-a Đệ Nhất (ch. 1-39). I-sai-a Đệ Nhị (ch. 40-55). I-sai-a Đệ Tam (ch. 56-66). Trong phần I-sai-a Đệ nhất thì thị kiến trong chương 2: 1-5 là một trong những văn bản nổi tiếng bật trong sách này. Thật thế, văn bản tiên báo cảnh thái bình thịnh trị của Giu-đa và Giê-ru-sa-lem vào ngày sau hết. Hơn thế nữa văn bản còn mô tả ĐỨC CHÚA, Đấng Thẩm Phán và quyền năng của vũ hoàn sẽ thi hành quyền lực trên mọi nước mọi dân. Tất cả các dân tộc sẽ được hòa bình nhờ vâng nghe lời của ĐỨC CHÚA[1].
Bước vào đầu Mùa Vọng thuộc phụng vụ Năm A, Giáo hội cho chúng ta nghe bài đọc 1 thuộc sách ngôn sứ I-sai-a. Đây quả là điều tuyệt vời khi Giáo Hội hướng chúng ta về Thiên Chúa là Đấng làm chủ và điều khiển lịch sử và khuyến khích con cái mình hãy kiến tạo hòa bình trong sự hướng dẫn của Chúa. Bài viết xin trình bày bối cảnh và hình thức văn chương của văn bản cũng như viễn tượng của văn bản về Đức Ki-tô, Đấng hoàn tất lịch sử. Qua đó người đọc có thể hiểu hơn về Kinh Thánh nhất là sách I-sai-a và từ đó thêm yêu mến Lời Chúa hơn.[2]
- NỘI DUNG
- Giới thiệu về bản văn
Bản văn trong chương 2 câu 1-5 cũng được tìm thấy trong sách ngôn sứ Mi-kha chương 4 câu 1-3 với vài khác biệt. Chính những sự khác biệt này làm các học giả nghĩ rằng hai sách Is và Mk có thể xuất phát từ một nguồn, những điểm này đang còn trong vòng tranh luận[3]. Dù cho bản văn này phát xuất từ đâu đi nữa thì nhìn chung bản văn biểu lộ niềm hy vọng về một tương lai hòa bình vĩnh cữu. Điều đáng nói ở đây là bản văn xuất hiện ngay sau các thị kiến “hạch tội và lên án” được nói đến ở chương 1. Vì thế bản văn có thể vị tựa mùa xuân tươi sáng đem lại sức sống cho muôn vật hay như ngọn hải đăng tỏa rạng trong đêm tối đem lại hy vọng cho những ai vượt biển. Bởi vì bản văn tiên báo một thời đại hòa bình thịnh trị và một vương quốc được thống nhất dưới quyền thống lãnh của ĐỨC CHÚA và sự hòa hợp trên địa cầu sẽ được thiết đặt. Khi đó, Giu-đa và Giê-ru-sa-lem sẽ trở nên trung tâm của hòa bình và các quốc gia cùng muôn dân muôn nước sẽ được bình an. Quả thế, sự bình an này đến từ ĐỨC CHÚA và mọi dân tộc sẽ được điều đó chỉ khi nào thừa nhận quyền tối thượng của Người và sống theo giáo huấn của Người.
Bản văn I-sai-a chương 2 câu 1-5
|
Bản văn tiếng Híp-ri
א הַדָּבָר אֲשֶׁר חָזָה, יְשַׁעְיָהוּ בֶּן-אָמוֹץ, עַל-יְהוּדָה, וִירוּשָׁלִָם(1)
ב וְהָיָה בְּאַחֲרִית הַיָּמִים, נָכוֹן יִהְיֶה הַר בֵּית-יְהוָה בְּרֹאשׁ(2) הֶהָרִים, וְנִשָּׂא, מִגְּבָעוֹת; וְנָהֲרוּ אֵלָיו, כָּל-הַגּוֹיִם
ג וְהָלְכוּ עַמִּים רַבִּים, וְאָמְרוּ לְכוּ וְנַעֲלֶה אֶל-הַר-יְהוָה אֶל-בֵּית אֱלֹהֵי יַעֲקֹב, וְיֹרֵנוּ מִדְּרָכָיו, וְנֵלְכָה בְּאֹרְחֹתָיו: כִּי מִצִּיּוֹן תֵּצֵא תוֹרָה, וּדְבַר-יְהוָה מִירוּשָׁלִָם
ד וְשָׁפַט בֵּין הַגּוֹיִם, וְהוֹכִיחַ לְעַמִּים רַבִּים; וְכִתְּתוּ חַרְבוֹתָם(4) לְאִתִּים, וַחֲנִיתוֹתֵיהֶם לְמַזְמֵרוֹת–לֹא-יִשָּׂא גוֹי אֶל-גּוֹי חֶרֶב, וְלֹא-יִלְמְדוּ עוֹד מִלְחָמָה.
ה בֵּית, יַעֲקֹב–לְכוּ וְנֵלְכָה, בְּאוֹר יְהוָה.(5)
|
Bản dịch của Nhóm Phiên dịch Các Giờ Kinh Phụng vụ – Kinh Thánh ấn bản 2011 1 Đây là điều mà ông I-sai-a, con ông A-mốc, đã được thấy về Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.
2 Trong tương lai, núi Nhà ĐỨC CHÚA đứng kiên cường vượt đỉnh các non cao, vươn mình trên hết mọi ngọn đồi. Dân dân lũ lượt đưa nhau tới, 3 Nước nước dập dìu kéo nhau đi.
Rằng : “Đến đây, ta cùng lên núi ĐỨC CHÚA, lên Nhà Thiên Chúa của Gia-cóp, để Người dạy ta biết lối của Người, và để ta bước theo đường Người chỉ vẽ. Vì từ Xi-on, thánh luật ban xuống, từ Giê-ru-sa-lem, lời ĐỨC CHÚA phán truyền. 4 Người sẽ đứng làm trọng tài giữa các quốc gia và phân xử cho muôn dân tộc. Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái. Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau, và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến. 5 Hãy đến đây, nhà Gia-cóp hỡi, ta cùng đi, nhờ ánh sáng ĐỨC CHÚA soi đường ! |
Đoạn văn Is 2,1-5 có thể chia theo cấu trúc như sau[4]:
|
I. Lời giới thiệu về thị kiến (c.1) II. Về sự kiện thành lập Xi-on 2–3a A. Chiều kích vũ trụ: sự trỗi vượt của Xi-on (c. 2a) B. Chiều kích xã hội/chính trị: cuộc hành hương của các quốc gia đến Xi-on (c. 2b–3a) III. Về lý do thành lập Xi-on (c. 3b–4) A. Lý do thích đáng: Torah của ĐỨC CHÚA (c. 3b–4a) B. Kết quả: hòa bình thế giới dưới sự cai trị của ĐỨC CHÚA tại Xi-on (c. 4b) IV. Lời mời gọi lắng nghe và tin tưởng ĐỨC CHÚA (c.5) |
- Ơn gọi của ngôn sứ I-sai-a Đệ Nhất
Ơn gọi của ngôn sứ I-sai-a Đệ Nhất thật đặc biệt. Ngài được trực tiếp Thiên Chúa gọi trong một thị kiến được trình thuật ở chương 6 và thị kiến này theo các học giả có lẽ là một trong những văn bản hay nhất của văn chương Cựu Ước[5]. Trong cuộc thần hiện đó Thiên Chúa cho ngài thấy vinh quang Thiên Chúa, ngài nhận ra mình là kẻ môi miệng ô uế. Thiên Chúa thanh tẩy môi miệng rồi cho ngài biết Thiên Chúa đang cần một người để sai đi, và I-sai-a tự nguyện dâng mình cho Thiên Chúa. Nhưng Thiên Chúa cũng cho ông biết rằng người ta sẽ không nghe lời ông, tai hoạ sẽ xảy ra[6]. Tuy thế, ngài lãnh nhận sứ mạng đó trong tinh thần vâng phục “Tôi thưa: Dạ, con đây, xin sai con đi.” (Is 6, 8). Chúng ta nhận thấy rằng trong trình thuật này tác giả xưng “tôi” điều đó chứng tỏ rằng I-sai-a đã nhận được thị kiến trực tiếp chứ không phải qua giấc mơ hay bất cứ sự gián tiếp nào. Điều đặc biệt trong thị kiến này đó là vẻ rạng ngời cũng như ánh thiều quang nhằm diễn tả vương quyền Thiên Chúa được miêu tả rất sinh động. Cũng thế, các cuộc đối đáp giữa Xê-ra-phim với ngài và giữa ĐỨC CHÚA với ngài cũng được miêu tả chi tiết. Tuy ngài nhận mình “môi miệng ô uế” (Is 6,4) nhưng đã được ĐỨC CHÚA chọn và thanh tẩy môi miệng ngài bằng cách gắp than hồng bỏ vào miệng
Một trong các Xê-ra-phim bay về phía tôi, tay cầm một hòn than hồng người đã dùng cặp mà gắp từ trên bàn thờ. Người đưa hòn than ấy chạm vào miệng tôi và nói : Đây, cái này đã chạm đến môi ngươi,ngươi đã được tha lỗi và xá tội.” (Is 6,6-7).
Hình ảnh này thật đẹp cho thấy rằng ĐỨC CHÚA đã chọn ai thì Ngài cũng sẽ thánh hiến người đó và sai đi. Việc thanh tẩy môi miệng cũng xác nhận ơn gọi ngôn sứ. Vì ngôn sứ là cái miệng của Thiên Chúa. Như thế, tường thuật về ơn gọi của ngài ở trong hình thức hiện tại. Nghĩa là ngài được Thiên Chúa gọi thi hành chức vụ ngôn sứ[7]. Với việc hưởng ứng nhanh chóng và quả quyết lời kêu gọi của ĐỨC CHÚA chứng tỏ ngài là một con người quả cảm và cương trực không như một số ngôn sứ như Giô-na hay Giê-rê-mi-a (x. Gr 1,6). Thật vậy, sứ vụ của Chúa trao cho ngài quả lớn lao và ngài cũng ý thức với điều đó. Và cũng qua thị kiến trao sứ vụ này ngài biết rằng số phận của dân ngài như thế nào. Nhưng mà ngài bình an vì Chúa luôn đồng hành với ngài[8].
- Văn hóa và địa chính trị thời I-sai-a Đệ nhất
Ngôn sứ I-sai-a sinh ra lớn lên và hoạt động trong một thời kỳ đầy bất ổn. Thật vậy, khi ngài sinh ra thì vương quốc Ít-ra-el mà vua Đa-vít thống nhất đã bị chia đôi. Tuy cùng có chung tổ tiên cội nguồn nhưng vương quốc phía Bắc và phía Nam đánh nhau liên miên. Thời đại này cũng là một thời kỳ đầy biến động. Khi mà Giu-đa và các nước chung quanh đang lâm vào tình cảnh bi đát vì bị đe dọa bởi cuộc xâm lược của đế quốc Át-sua. Hơn thế, vương quốc Giu-đa cùng với các vương quốc khác như Ít-ra-en cũng thường xảy ra chiến tranh để tranh giành lãnh thổ. I-sai-a chào đời vào triều đại vua Út-di-gia-hu – A-dác-gia (767-739), một thời gian huy hoàng tương đối, kéo dài sang triều Giô-tham (738-736). Ngược lại hoàn cảnh đã thay đổi tận căn vào thời cua A-khát (735-716), khi bùng nổ chiến tranh Xy-ri, Ép-ra-im, một biến cố quan trọng trong lời rao giảng của I-sai-a[9]. Khi đó vua Tích-lát Pil-le-xe III (745-727) của Át-sua là một người tài giỏi và một nhà quân sự lão luyện, nhưng lại là một người rất hiếu chiến đã đem quân đi chinh phạt nhiều quốc gia trong đó có Ít-ra-en và đã chiếm được nhiều miền đất trong vương quốc này. Số là khi Giu-đa bị liên quân Ít-ra-en và Xy-ri xâm lăng đã làm cho lòng vua và lòng dân rúng động, vua A-khát thay vì tin tưởng vào ĐỨC CHÚA thì đã cầu cứu vua Tích-lát Pil-le-xe III (X. 2V 16,7). Trong biến cố này nhà vua có thỉnh ý ngôn sứ I-sai-a nhưng sau đó nhà vua không nghe mà vẫn cứ cầu viện Át-sua và chính điều này khiến cho ngôn sứ I-sai-a thất vọng. Cần phải nói thêm rằng, các ngôn sứ trong thời kỳ Bắc – Nam phân chia thường được các vua hỏi ý kiến và tham gia vào đời sống chính trị như Ê-li-a, Ê-li-sa và I-sai-a và nhiều khi các ngài còn là những chính khách tham nắm giữ các chức vụ quan trọng như I-sai-a[10]. Chính vì vua A-khát chọn làm chư hầu cho Át-sua dẫn đến việc vương quốc Giu-đa phải nộp thuế cho đế quốc này. Về phía Tích-lát Pil-le-xe III thì ông đã làm chủ phần lớn lãnh thổ Ít-ra-en, sát nhập vương quốc này vào đế quốc Át-sua. Tiếp theo cuộc xâm lăng đầu tiên này, sẽ có một cuộc xâm lăng thứ hai và là cuộc xâm lăng vĩnh viễn. Các biến cố xảy ra thật nhanh: vào năm 722, Sa-ma-ri sụp đổ dưới bàn tay của San-ma-ne-xe V, và năm sau, Xác-gôn II hoàn tất cuộc chinh phục, tháp nhập vùng Sa-ma-ri vào đế quốc Át-sua. Thế là chấm dứt vương quốc Israel. Trong khi Giu-đa không có vấn đề với dân Át-sua trong thời vua A-khát, sang thời Khít-ki-gia (721-693), là con và người kế vị vua A-khát, lại không được như thế, vì vua này hai lần tham gia với các quốc gia khác vào các cuộc nổi loạn chống Át-sua, với hy vọng là Ai Cập sẽ đến trợ giúp, nhưng chẳng bao giờ có. Bị châm chọc bởi nhiều cuộc nổi loạn như thế, vua Xan-khê-ríp quyết định xâm chiếm Giu-đa. Sau khi đã chinh phục bốn mươi sáu pháo đài của vương quốc, ông bao vây công hãm Giê-ru-sa-lem nhưng không chiếm thành (khoảng 701). Lạ lùng là các toán quân Át-sua không tiêu diệt thành, nhưng chấp nhận một món phạt là một lượng cống thuế khổng lồ từ phía nhà vua rồi rời bỏ lãnh thổ hoàn toàn bị tàn phá và làm chư hầu. Biến có này có một không hai trong lịch sử chính trị của Át-sua, vào thời ấy được coi như một phép lạ, một phúc lành ĐỨC CHÚA đã gửi đến trên Giê-ru-sa-lem. Truyền thống Kinh Thánh thấy trong các biến cố này có bàn tay của ĐỨC CHÚA che chở thành yêu dấu của Người (x. 2 V 18–19)[11].
Đối với đoạn văn Is ở chương 2 câu 1-5 thì nhiều học giả cho rằng bối cảnh của nó liên quan trực tiếp đến thời kỳ mà vua Ky-rô[12] vua xứ Ba-tư cho phép dân Ít-ra-en hồi hương để tái thiết đền thờ (x. Er 1,1-6). Thật thế, khi quan sát các đoạn văn trước đó của I-sai-a độc giả nhận thấy rằng nơi đó chỉ thấy toàn các lời “sấm ngôn hạch tội” các dân và các “lời than vãn” với những lời lẽ bi quan và tương lai ảm đạm thì đến đoạn văn này lại tiên báo một cảnh thái bình thịnh trị của Giê-ru-sa-lem và Xi-on với lời vui tươi và hy vọng. Hơn thế nữa nhiều đoạn Kinh Thánh trong Cựu Ước như: Dcr 8:20 –23 và Is 37:20–32 và 2V 19,29–31, đối với tầm nhìn về hòa bình cũng như sự công nhận tự nguyện của các quốc gia đối với ĐỨC CHÚA đều ủng hộ bối cảnh này.[13]
- Hình thức văn chương và biện pháp tu từ của đoạn văn
Trong các sách ngôn sứ thì sách I-sai-a có hình thức văn chương đặc biệt, không chỉ vì sự đa dạng trong các thể tài mà tác giả sử dụng nhưng còn là câu chữ, cách xây dựng nội dung và sự trau chuốt từ ngữ. Thật vậy, nếu để ý kỹ khi đọc sách độc giả sẽ nhận ra có sự sắp xếp có chủ ý của tác giả khi sử dụng các thể tài, thể loại và biện pháp tu từ.
Trong thị kiến được ghi ở chương 2 câu 1-5, tác giả sử dụng thi ca để diễn tả sứ điệp mà ông muốn truyền đạt. Thật thế, thể thơ ông dùng trong văn bản này là thể thơ theo lối biễn ngẫu. Thơ theo lối biền ngẫu là thể thơ được dùng trong thi ca thời xưa với thể thơ này thi nhân có thể diễn đạt những tình cảm, cảm xúc của mình cách chân thật nhưng cũng không kém chất văn chương. Yêu cầu của thể thơ này là đối về ý và đối về chữ, đối thanh và đối loại. Đối ý là tìm hai ý tưởng cân nhau đặt thành hai câu sóng nhau. Đối chữ là vừa phải đối về thanh, vừa phải đối về loại. Đối thanh thì theo nguyên tắc nghịch đối: trắc đối bằng, bằng đối trắc, còn đối loại thì lại theo nguyên tắc đồng đối: hư tự đối với hư tự, thực tự đối với thực tự, theo ngữ pháp hiện đại tức là các chữ phải thuộc cùng một từ loại (danh từ đối với danh từ, động từ đối với động từ…)[14]. Trong văn chương Híp-ri và các nước như Trung Quốc và Việt Nam, thể thơ này rất thịnh hành và có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, có thể câu 7 chữ, câu 5 chữ, câu 8 chữ… Nhưng tựu trung thì hai câu hoặc cả bài đều xuất hiện các vế đối nhau.
Chẳng hạn, trong bài thơ Vô đề nhà thơ Lý Thương Ẩn dùng phép đối ở các câu 3,4,5,6,7,8
相見時難別亦難,東風無力百花殘。
春蠶到死絲方盡,蠟炬成灰淚始幹。
曉鏡但愁雲鬢改,夜吟應覺月光寒。
蓬萊此去無多路,青鳥殷勤為探看。
|
Nguyên âm Tương kiến thì nan biệt diệc nan, Đông phong vô lực bách hoa tàn. Xuân tàm đáo tử ty phương tận, Lạp cự thành hôi lệ thuỷ can. Hiểu kính đãn sầu vân mấn cải, Dạ ngâm ưng giác nguyệt quang hàn. Bồng Lai thử khứ vô đa lộ, Thanh điểu ân cần vị thám khan |
Dịch nghĩa Gặp gỡ nhau đã khó, chia lìa nhau lại càng khó, Gió xuân không đủ sức, để trăm hoa tàn úa. Tằm xuân đến chết mới nhả hết tơ, Ngọn nến thành tro mới khô nước mắt. Sớm mai soi gương, buồn cho tóc mây đã thay đổi, Ngâm thơ ban đêm chợt nhận ra ánh trăng lạnh lẽo. Đường từ đây tới Bồng Lai dù không xa, Chim xanh hãy vì ta mà ân cần thăm dò tin tức |
Dịch thơ Khó gặp nhau mà cũng khó xa, Gió Đông đành để rụng muôn hoa. Con tằm đến thác tơ còn vướng, Chiếc nến chưa tàn lệ vẫn sa. Sáng ngắm gương, buồn thay mái tuyết, Đêm ngâm thơ, thấy lạnh trăng ngà. Bồng Lai tới đó không xa mấy, Cậy với chim xanh dọ lối mà. (Khương Hữu Dụng và Tương Như dịch) |
Trong bài thơ này tác giả sử dụng đối thanh, đối ý và đối từ… Trong câu 3 và 4 chúng ta có thể thấy cấu trúc 3/4 cho cặp đối. Câu 5 câu 6 cũng vậy và câu 7 câu 8 thì theo cấu trúc 2/5. Còn về ý và từ thì động từ đối với động từ như: đáo tử/thành hôi, Hiểu kính/ Dạ ngâm; danh từ thì có Lạp cự/ Xuân tàm, Bồng Lai/ Thanh Điểu…
Văn chương Việt Nam cũng có nhiều bài thơ sử dụng phép đối để thể hiện các tâm tư tình cảm của tác giả.
Nguyễn Trãi: 人才秋葉 (Nhân tài thu diệp/ Nhân tài như lá mùa thu)
俊傑晨星 (Tuấn kiệt thần tinh/ Tuấn kiệt như sao buổi sớm)
Hoặc: 以大義而勝兇殘 (Dĩ đại nghĩa nhi thắng hung tàn/ Lấy đại nghĩa mà thắng hung tàn)
以至仁而易彊暴 (Dĩ chí nhân nhi dị cường bạo/ Đem chí nhân mà thay cường bạo)[15]
Bà Huyện Thanh Quan: Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,
Nước còn chau mặt với tang thương[16].
Đặng Trần Thường và Ngô Thì Nhậm
Vế của Đặng Trần Thường: Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai.
Ngô Thì Nhậm đối lại: Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế[17].
Thánh An-rê Trần An Dũng Lạc: Lòng nhớ bạn, nỗi còn vất vả,
Dạ thương khách, chạy chữa yên hàn[18].
Trong Kinh Thánh, đặc biệt trong các Thánh Vịnh thì phép đối được sử dụng khá nhiều, chẳng hạn như trong các Thánh vịnh 2, 18, 19, 85…
Sao chư dân lại ồn ào náo động ?
Sao vạn quốc dám bày kế viển vông ?
Vua chúa trần gian cùng nổi dậy,
vương hầu khanh tướng rập mưu đồ (Tv 2,1-2)
hoặc: Trời xanh tường thuật vinh quang của Chúa
Không trung loan báo việc tay Người làm
Ngày qua mách bảo cho ngày tới
Đêm này kể lại với đêm kia (Tv 19, 2-3)
Đối với đoạn văn Is chương 2, 1-5, tác giả cũng sử dụng phép đối là biện pháp tu từ cho đoạn này. Thật thế, ngoài câu 1 và câu 5 tác giả giới thiệu thị kiến và lời mời gọi kết thúc thị kiến thì phần còn lại tác giả dùng là thơ với những hình ảnh được xây dựng thật sinh động. Cần phải nói rằng ngôn sứ I-sai-a là một trong tác giả thích sử dụng thơ để chuyển tải sứ điệp của mình. Trong câu 2 và 3 của đoạn văn:
Trong tương lai, núi Nhà ĐỨC CHÚA
đứng kiên cường vượt đỉnh các non cao,
vươn mình trên hết mọi ngọn đồi.
Dân dân lũ lượt đưa nhau tới,
Nước nước dập dìu kéo nhau đi.
Rằng : “Đến đây, ta cùng lên núi ĐỨC CHÚA,
lên Nhà Thiên Chúa của Gia-cóp,
để Người dạy ta biết lối của Người,
và để ta bước theo đường Người chỉ vẽ.
Vì từ Xi-on, thánh luật ban xuống,
từ Giê-ru-sa-lem, lời ĐỨC CHÚA phán truyền.
Chúng ta thấy, tác giả đã sử dụng phép đối thật điêu luyện, phép đối ở đây được sử dụng là phép đối đồng đẳng tức là sử dụng những từ ngữ cùng hàm ngụ nội dung để nhấn mạnh nghĩa. Thật vậy, ở câu 2 tác giả cho ta biết “sẽ xảy ra những ngày sau hết” thì “núi Nhà ĐỨC CHÚA” sẽ trổi vượt lên. Cụm từ “núi nhà ĐỨC CHÚA” (הַר בֵּית-יְהוָה) xuất hiện như một tổ hợp danh từ gồm “Núi và Nhà ĐỨC CHÚA” để chỉ rằng đền thờ của ĐỨC CHÚA sẽ được xây trên núi này vì núi này sẽ là núi linh thiêng xứng đáng nơi Chúa ngự[19]. Tiếp đó tác giả mô tả:
Đứng kiên cường vượt đỉnh các non cao
Vươn mình trên hết mọi ngọn đồi
Dân dân lũ lượt đưa nhau tới,
Nước nước dập dìu kéo nhau đi.
Trong câu này tác giả dùng phép đối khi cho đối non cao / ngọn đồi và tính từ kiên cường/vươn mình, và các động từ dân dân/nước nước, đưa nhau tới/kéo nhau đi. Từ núi (הַר) trong tiếng Híp-ri là giống đực chỉ một ngọn núi lớn, còn “đồi” (גִּבְעָה) là giống cái. Cũng vậy từ “dân dân” (עַמִּים רַבִּים) là danh từ giống đực và “nước nước” (כָּל-הַגּוֹיִם) là danh từ giống cái . Như vậy tác giả có ý nói rằng “Núi Nhà ĐỨC CHÚA” sẽ trổi vượt lên trên mọi sự không bất kể đó là ai và quốc gia nào thì đều phải “ngước nhìn” lên nhà ĐỨC CHÚA. Việc sử dụng phép đối trong câu này tác giả muốn cho thấy rằng tầm quan trọng của “Núi Nhà ĐỨC CHÚA” đối với muôn dân tộc không kể gì người trong dân thánh hay người ngoại đạo vì ĐỨC CHÚA sẽ dạy dỗ họ và ban cho họ một cuộc sống hòa bình[20]. Qua câu khác tác giả kêu gọi mọi người cũng như tự bảo mình là hãy đến “núi ĐỨC CHÚA” để lắng nghe Lời và thánh luật của Người được ban xuống từ Xi-on và Giê-ru-sa-lem. Trong đoạn này tác giả cũng sử dụng phép đối.
để Người dạy ta biết lối của Người,
và để ta bước theo đường Người chỉ vẽ.
Vì từ Xi-on, thánh luật ban xuống,
từ Giê-ru-sa-lem, lời ĐỨC CHÚA phán truyền.
Lối (אֹרַח)/ đường (דֶּרֶךְ) cả hai đều là danh từ và cùng giống đực, Thánh luật (תּוֹרָה) / Lời (דָבָר) là hai “hạn từ” rất quan trọng trong văn chương Cựu Ước. Luật chỉ những giáo huấn của ĐỨC CHÚA dành cho dân Người và bộ sách quan trọng của Cựu Ước là Torah. Còn Dabar chỉ lời quyền năng, lời sáng tạo mà chỉ mình ĐỨC CHÚA mới được sử dụng “hạn từ” này. Do đó, qua câu này tác giả cho thấy rằng chức năng và mục đích của Núi nhà ĐỨC CHÚA đem lại là khiến cho muôn dân tập trung vào Lời và Lề Luật của ĐỨC CHÚA. Hơn nữa cho thấy tính chính danh của Xi-on và Giê-ru-sa-lem khi là nơi phát xuất ra Lời và Lề luật. Ở câu 4 tác giả cho ta thấy quyền uy vô biên và vĩnh cữu của ĐỨC CHÚA cũng như tiên báo một tương lai tốt đẹp cho thế giới:
Người sẽ đứng làm trọng tài giữa các quốc gia
và phân xử cho muôn dân tộc.
Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày,
rèn giáo mác nên liềm nên hái.
Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau,
và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến.
Trong câu này tác giả cũng dùng phép đối: trọng tài (שָׁפַט) dịch sát là “xét xử” / phân xử (יָכַח) dịch sát là “phán quyết”, quốc gia/ dân tộc, đúc gươm đao (חֶרֶב – כָּתַת) / rèn giáo mác (מַזְמֵרָה – חֲניִת), thành cuốc thành cày (לְאִתִּ֗ים) / nên liềm nên hái (לְמַזְמֵר֔וֹת), không còn vung kiếm đánh/ thôi học nghề chinh chiến. Những hình ảnh được đưa ra đây cho thấy một viễn tượng tươi đẹp cho một thời đại thái bình thịnh trị, nơi mà không còn tình trạng chiến tranh và mọi người sẽ được hạnh phúc. Và chính đoạn văn được các giáo phụ và các nhà thần học liên tưởng đến thời cánh chung, nơi Đức Ki-tô sẽ chiến thắng hiển vinh và Người sẽ đến xét xử mọi người.
- Viễn ảnh về Ki-tô học trong đoạn văn
Đoạn văn ở chương 2 từ 1-5 của sách ngôn sứ I-sai-a là một đoạn văn giàu hình ảnh và lời hứa, thường được thần học Ki-tô giáo giải thích như một tầm nhìn về triều đại tương lai của Thiên Chúa, được thể hiện nơi Đức Kitô. Đoạn văn này nói về thời kỳ mà Lời và Lề luật của ĐỨC CHÚA sẽ được ban phát từ Giê-ru-sa-lem, thời kỳ hòa bình khi các quốc gia sẽ biến vũ khí của mình thành nông cụ và chiến tranh nữa. Thật vậy, đoạn văn này được coi là điềm báo về sự xuất hiện của Đức Ki-tô, người được cho là sẽ ứng nghiệm những lời ngôn sứ trong Cựu Ước bằng cách thiết lập một vương quốc hòa bình và công lý. Hình ảnh ngọn núi của nhà Chúa được thành lập và tất cả các quốc gia kéo đến đó thường gắn liền với lời kêu gọi phổ quát và triều đại cuối cùng của Đức Kitô. Bởi vì theo các giáo phụ đoạn văn này chỉ tất cả vương quyền và vinh quang cũng như danh dự sẽ được gồm thâu trong Đức Ki-tô và Vương quốc Thiên Chúa sẽ được thành lập. Các giáo phụ còn nhìn thấy ở đoạn văn này nhiều hình ảnh tiên trưng về Chúa Ki-tô. Người là Núi đá mà muôn dân muôn nước phải hướng về, Người là Đấng Cứu độ muôn dân, Người là sự bình an cho muôn dân, Người sẽ ban hành lề luật mới và sự tha thứ tại Giê-ru-sa-lem và Tin Mừng sẽ được bắt đầu từ Xi-on và mọi người sẽ bước đi trong ánh sáng của Người[21]. Thánh Augustinô khi bình luận về đoạn văn này đã nói rằng:
Chúa Ki-tô là Núi. Vị trí trung tâm mà tất cả họ hướng tới là Chúa Ki-tô; Người là trung tâm, bởi vì Người có liên hệ bình đẳng với tất cả mọi người; bất cứ điều gì được đặt ở trung tâm là chung cho tất cả mọi người. . . .Đến gần núi, leo lên núi, ai đã leo núi thì đừng xuống núi. Ở đó bạn sẽ được an toàn, ở đó bạn sẽ được bảo vệ; Đức Ki-tô là núi nơi ẩn náu của bạn. Và Chúa Ki-tô ở đâu? Bên hữu Chúa Cha, từ khi Người lên trời. (Bài giảng 62 A, đoạn 3)[22].
Còn theo thánh Ghê-gô-ri-ô Cả thì nói“Ai có nghĩa là ‘núi trổi vượt’ chẳng phải là là Đấng Cứu Chuộc chúng ta đó sao”[23].
Thuật ngữ “Trong tương lai” dịch sát là “vào lúc cuối của những ngày” chính là ngày Chúa sẽ can thiệp vào lịch sử đến thiết lập vương quốc công lý và hòa bình của Người. Ngày này chính là ngày mà Đức Ki-tô sẽ hoàn tất mọi sự và cũng trong ngày này Người sẽ xuất hiện như vị quan tòa công minh để xét xử muôn dân. Đức Ki-tô sẽ là Đấng Cứu Độ của mọi dân tộc và muôn dân muôn nước sẽ kéo về Giê-ru-sa-lem vì Thiên Chúa của địa cầu đang ngự nơi đó chứ không ở nơi nào khác[24]. Sau này trong thị kiến ở chương 21 của sách Khải huyền chúng ta sẽ thấy được sự huy hoàng của thành Giê-ru-sa-lem mới, nơi Đức Ki-tô sẽ ngự trên tòa vinh hiển của Người.
Nước nước dập dìu kéo nhau đi.
Rằng : “Đến đây, ta cùng lên núi ĐỨC CHÚA,
lên Nhà Thiên Chúa của Gia-cóp,
để Người dạy ta biết lối của Người,
và để ta bước theo đường Người chỉ vẽ.
Vì từ Xi-on, thánh luật ban xuống,
từ Giê-ru-sa-lem, lời ĐỨC CHÚA phán truyền.
Người sẽ đứng làm trọng tài giữa các quốc gia
và phân xử cho muôn dân tộc.
Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày,
rèn giáo mác nên liềm nên hái.
Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau,
và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến. (Is 2,3-4)
Quả thế, thị kiến này của ngôn sứ I-sai-a hoàn toàn được nên trọn trong sứ vụ của Đức Giê-su Ki-tô. Người là Đấng mà Thiên Chúa đã cho trỗi dậy từ cõi chết và đặt bên hữu Người trên trời. Như vậy, Thiên Chúa đã tôn Đức Ki-tô lên trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị có thể có được (x. Ep 12,21-22). Bởi vì chỉ có một mình Đức Giê-su là Đấng chỉ dạy đường lối Thiên Chúa một cách tường tận và đầy đủ nhất. Trong Người chúng ta thấy được Đấng ban lời dạy để giúp thánh luật nên trọn hảo và lời giảng dạy của Người là Tin Mừng mà Hội Thánh rao giảng. Vì thế, nếu nơi nào tuân giữ Tin Mừng yêu thương của Đức Giê-su Ki-tô nơi ấy sẽ không còn chiến tranh và nơi đó Vương quốc Thiên Chúa được hiện diện[25].
- Liên hệ cuộc sống hôm nay
Với thị kiến được ghi chép trong 2:1-5, ngôn sứ I-sai-a đã miêu tả một vương quốc thái bình cho chúng ta trong tương lai. Quả thế, với những hình ảnh được mô tả trong đoạn văn này và với thể thơ và phép đối được dùng, bản văn rực sáng lên tầm quan trọng của ĐỨC CHÚA cùng Lời và Lề luật của Ngài. Thật vậy, qua hình ảnh trổi vượt của “Núi nhà ĐỨC CHÚA” mà muôn dân muôn nước tuôn đổ về đó và với cảnh thái bình và với trạng thái “thôi học nghề chính chiến”, “và dân này nước nọ không còn vung kiếm đánh nhau” đã cho chúng ta một niềm hy vọng lớn lao về một niềm hòa bình viên mãn. Nền hòa bình này nói theo các thánh giáo phụ chính là nền hòa bình được Đức Ki-tô thiết lập. Thật thế, trên thế giới ngày nay đã đang và xảy ra nhiều cuộc chiến gây bao đau khổ cho nhiều người và gây ra thương tổn cho trái đất thì chính những gì mà ngôn sứ I-sai-a miêu tả trong thị kiến này là niềm an ủi cho chúng ta. Thị kiến này cho chúng ta bài học đó là tình trạng hòa bình phải được xây dựng trong ân sủng và tình yêu của Thiên Chúa chứ không phải là công lao của con người. Vì thế để có được sự thái bình thì các dân tộc phải suy phục quyền ĐỨC CHÚA. Mà sự suy phục ở đây không khác gì chính là lắng nghe và tuân giữ Lời và Lề luật của Người.
Đối với chúng ta là những người tin thì bản văn này đem lại cho chúng ta chứng từ về sự công bình và niềm hy vọng. Chúng ta tin ngày cánh chung Đức Ki-tô sẽ đến trong vinh hiển của Người và sẽ xét xử kẻ sống và kẻ chết. Lúc này Người sẽ hoàn tất mọi sự và mọi kẻ thù sẽ bị đặt dưới chân Người. Vương quyền của Người sẽ tồn tại mãi mãi. Hơn thế nữa, chúng ta cũng mơ ước về một thế giới không còn chiến tranh nơi đó mọi người sẽ sống hiền hòa với nhau. Nhưng thế giới đó có chăng sẽ xa vời khi mà các ý thức hệ đối đầu nhau vẫn còn hiện hữu. Những hình ảnh “Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, /rèn giáo mác nên liềm nên hái. Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau, và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến.” (Is 2,4) luôn luôn là ước vọng của chúng ta. Cũng qua bản văn này chúng ta được mời gọi vững tin vào Thiên Chúa là Đấng làm chủ lịch sử, Ngài sẽ thực thi quyền năng của Ngài tren lịch sử và sẽ làm cho mọi sự được tốt đẹp. Bản văn cũng mời gọi chúng ta lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa vì đó là nguồn sống của chúng ta, hơn thế nữa chúng ta cũng được mời gọi ra sức hành động vì nền hòa bình cho quê hương và cho thế giới, những hành động đó đôi khi rất nhỏ như sống đúng nhân bản, tôn trọng phẩm giá con người, giúp đỡ người nghèo và đặc biệt nhất là cầu nguyện cho người nghèo. Vì qua những hành động đó chúng ta sẽ góp phần xây dựng cuộc sống hạnh phúc và an hòa.
III. Kết luận
Thị kiến trong chương 2,1-5 của sách ngôn sứ I-sai-a là một trong những thị kiến nổi tiếng và đặc sắc của sách này. Không chỉ vì ngôn ngữ điêu luyện giàu hình ảnh cùng với phép đối trong thể thơ trữ tình mà còn vì đây là bản văn ngời lên ánh hy vọng cho mọi người. Thật vậy, trong bản văn tác giả tiên báo một nền hòa bình thịnh trị được ĐỨC CHÚA thiết lập sẽ là vương quốc hòa bình cho muôn dân muôn nước. Bản văn còn cho thấy ước vọng về một thời đại mà mọi người sẽ đi theo Lời và Lề luật của ĐỨC CHÚA. Hơn thế nữa qua bản văn này vị ngôn sứ loan báo triều đại của Đức Mê-si-a sẽ hiển trị và Đấng đó không ai khác chính là Đức Giê-su Ki-tô Chúa chúng ta. Vì thế, qua bản văn này chúng ta có được niềm hy vọng, sự an ủi cũng như xác tín hơn vào quyền năng của Thiên Chúa được thể hiện qua Đức Giê-su Ki-tô Đấng Cứu độ chúng ta. Và chúng ta cũng mong ước nền hòa bình sẽ đến trên trái đất này và mọi người sẽ được sống trong cảnh thái bình.
[1] X. Lm. Inhatio Nguyễn Ngọc Rao OP, Các sách ngôn sứ, (Học viện Đa Minh, 2006), tr. 102-103.
[2] Trong bài viết này, người viết sử dụng bản văn Kinh Thánh do nhóm Phiên dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ thực hiện để phân tích hình thức văn chương và các biện pháp tu từ cũng như các dữ liệu khác. X. Kinh Thánh: ấn bản 2011, Bản dịch của Nhóm Phiên dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ (Hà Nội: Tôn Giáo, 2017).
[3] Nhóm Phiên dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ, Sách I-sai-a – Bản dịch để học hỏi, (Hà Nội: Tôn Giáo, 2020), tr. 29.
[4] Sweeney, M. Vol. 16: Isaiah 1-39 : With an introduction to prophetic literature. The Forms of the Old Testament Literature (Grand Rapids, MI: William B. Eerdmans Publishing Company, 1996), tr. 96.
[5] Lm. Fx. Vũ Phan Long OFM, Các sách ngôn sứ (Đồng Nai: Đồng Nai, 2021), tr. 98.
[6] Chú thích b trong Kinh Thánh: ấn bản 2011, Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV (Hà Nội: Tôn Giáo, 2017), tr. 1558.
[7] X. Lm. Bernard Phạm Hữu Quang PSS, Giới thiệu ngôn sứ Kinh Thánh – Trào lưu Ngôn sứ, bản văn, con người, sứ điệp (Đồng Nai: Đồng Nai, 2022), tr. 470.
[8] X. Lm. Inhatio Nguyễn Ngọc Rao OP, Sđd, tr. 99.
[9] Lm. Fx. Vũ Phan Long OFM, Sđd, tr. 89.
[10] X. Barton, J, Isaiah 1-39 (London; New York: T&T Clark, 1995) tr. 28-30.
[11] Sđd, tr. 89-90.
[12] Ky-rô làm vua Ba-tư từ năm 557 tCN, chinh phục Ba-by-lon năm 538 tCN. Năm thứ nhất ở đây là năm 538 tCN. Vua này có chính sách đặc biệt là cho các dân đã bị đế quốc Ba-by-lon phát lưu được hồi hương và thờ phượng thần linh của họ như cũ. Đó là con đường giúp dân an cư lạc nghiệp, tạo sự ổn định trong đế quốc rộng lớn. Sử liệu cho thấy ông đã ân xá cho nhiều dân. Trong ánh sáng đức tin, người Do-thái nhận ra đây là một tác động của Chúa. Sách Is 45,1-7 đã gọi Ky-rô là người được Thiên Chúa xức dầu tấn phong dù ông không biết Chúa. X. Kinh Thánh: ấn bản 2011, Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV (Hà Nội: Tôn Giáo, 2017), tr. 821.
[13] Sweeney, M. Sđd, tr. 96.
[14]“Biền ngẫu” Từ điển Văn học, Bs. Đỗ Đức Hiếu, Nguyên Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá (Hà Nội: Thế Giới, 2004), tr. 128.
[15] Nguyễn Trãi, Bình Ngô đại cáo.
[16] Bà Huyện Thanh Quan, Thăng Long hoài cổ.
[17] Chuyện xưa kể lại rằng, Ngô Thì Nhậm và Đặng Trần Thường vốn có quen biết với nhau. Lúc Ngô Thì Nhậm được vua Quang Trung trọng dụng thì Đặng Trần Thường đến xin Nhậm tiến cử. Khi trông thấy vẻ khúm núm làm mất phong độ của kẻ sĩ, Ngô Thì Nhậm lên lớp thét bảo Thường rằng: Ở đây cần dùng người vừa có tài vừa có hạnh, giúp vua cai trị nước. Còn muốn vào luồn ra cúi thì đi nơi khác. Đặng Trần Thường hổ thẹn ra về, rồi sau đó vào Nam theo phò Nguyễn Phúc Ánh. Sau khi nhà Tây Sơn mất, các võ tướng và một số quan văn bị giải về Hà Nội để bị xử phạt đánh bằng roi ở Văn Miếu, trong số đó có Phan Huy Ích và Ngô Thì Nhậm. Chủ trì cuộc phạt đánh đòn đó lại là Đặng Trần Thường. Vì có thù riêng, Đặng Trần Thường kiêu hãnh ra vế câu đối cho Ngô Thì Nhậm. Vế đối hiểm hóc ở chỗ có 5 chữ ai và có một chữ trần là tên đệm của Đặng Trần Thường. Vế đối lại cũng có 5 chữ thế, nói lên được hoàn cảnh và khí phách của người anh hùng. Và vế đối cũng có chữ thời là tên đệm của Ngô Thời Nhậm. Đặng Trần Thường bắt ông phải sửa lại như câu nói “Thế đành theo thế” hay “thế thời theo thế” hoặc là “thế thì phải thế”. Nhưng Ngô Thì Nhậm không nói lại. Vì vậy Thường tức giận sai người dùng roi tẩm thuốc độc đánh ông. Sau trận đòn ông về nhà thì chết.
[18] Bài thơ được viết trong tù.
Lạc rầy đã rõ chốn quân quan
Bút chép thơ này gởi thở than
Lòng nhớ bạn, nỗi còn vất vả
Dạ thương khách, chạy chữa yên hàn,
Đông qua tiết lại thì xuân tới
Khổ trảm mai sau hưởng phúc an
Làm kẻ anh hùng chi quản khó
Nguyện xin cùng gặp chốn Thiên đàng.
[19] X. Benson Commentary, trong: https://biblehub.com/commentaries/isaiah/2-2.htm, truy cập ngày 5/5/2024.
[20] X. Biblical Commentary -Isaiah 2:1-5, trong: https://sermonwriter.com/biblical-commentary-old/isaiah-21-5-commentary/, truy cập ngày: 5/5/2024.
[21] X. Steven A. McKinion ,Thomas C. Oden, Isaiah 1-39: Ancient Christian Commentary on Scripture – Old Testament Volume X (Illinois: Inter Varsity, 2004), tr. 23-27.
[22] Sđd, tr. 23.
[23] Sđd. tr. 23.
[24] X. Giovavvo Mario OSB, Học hỏi thánh ca Cựu-Tân Ước (Lưu hành nội bộ: 2000), tr. 419.
[25] X. Sđd, tr. 421.


Bài viết liên quan
5 lời trích dẫn của Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu để sống Mùa Vọng sinh hoa trái
Lòng sùng kính của “Bông Hoa Nhỏ” dành cho Hài Nhi Giêsu khiến những trang...
Đôi dòng suy tư dịp lễ giỗ lần thứ 77 của Đức Cha Đaminh Hồ Ngọc Cẩn- Bề trên tiên khởi Dòng Thánh Tâm Huế
Đức Cha Hồ Ngọc Cẩn khi còn nhỏ tên gọi là Hồ Ngọc Ca, em...
30.11.2025. Chúa Nhật I mùa vọng năm A
Chào mừng đến với Mùa Vọng! Đó là một mùa tràn đầy nièm vui mong...
29.11.2025. Thứ Bảy tuần XXXIV thường niên. Lc 21, 34-36
Theo y học, lo âu thường được định nghĩa là cảm giác bị hạn chế,...
28.11.2025. Thứ Sáu tuần XXXIV thường niên. Lc 21, 29-33
Bạn có nhận ra những dấu chỉ của sự hiện diện và hành động của...
27.11.2025. Thứ Năm tuần XXXIV thường niên. Lc 21, 20-28
Bạn có tin rằng thế gian như chúng ta biết sẽ đi đến chỗ tận...