THÔNG ĐIỆP
MISERENTISSIMUS REDEMPTOR ĐẤNG CỨU CHUỘC GIÀU LÒNG THƯƠNG XÓT
CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG PIÔ XI VỀ SỰ ĐỀN TẠ THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU
GỬI TỚI QUÝ ANH EM ĐÁNG KÍNH
THƯỢNG PHỤ GIÁO CHỦ, GIÁO TRƯỞNG, TỔNG GIÁM MỤC, VÀ CÁC VỊ BỀ TRÊN
TRONG BÌNH AN VÀ HIỆP THÔNG VỚI TOÀ THÁNH
Chư huynh khả kính, Tôi kính chào và ban phép lành Toà Thánh
1. Đấng Cứu Chuộc giàu lòng thương xót của chúng ta sau khi đã hoàn tất công cuộc cứu độ loài người trên cây Thánh giá và trước khi rời bỏ thế gian để về với Chúa Cha đã nói với các Tông đồ và các môn đệ rằng: “Thầy sẽ ở với các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20) nhằm an ủi họ trong cảnh âu lo. Lời này đến với chúng ta thật dịu dàng và đã mang lại cho chúng ta căn nguyên của niềm hy vọng và sự an ninh. Thật thế, thưa chư huynh khả kính, khi từ toà cao mà nhìn xuống thì thấy xã hội loài người mắc phải nhiều sự dữ và khốn khó, và cũng thấy chính Giáo Hội hằng bị những sự chống đối cùng những mưu mô chẳng khi cùng thì tự nhiên Chúng Tôi nhớ tới lời ấy. Bởi vì, ngay từ lúc đầu khi mà các tông đồ đang sờn lòng nản chí thì lời hứa Thần linh này đã nâng cao tinh thần cho các ngài cùng đã làm bùng lên lửa nhiệt thành để các ngài đi gieo vãi hạt giống Tin Mừng khắp nơi trên thế giới. Kể từ đó Hội Thánh nhờ vào lời hứa này mà đã chiến thắng các cửa địa ngục. Bởi vì chẳng có lúc nào mà Chúa Giê-su Ki-tô Chúa chúng ta chẳng ở cùng Hội Thánh Người, mà khi Hội Thánh gặp phải những sự hiểm nghèo và khó khăn hơn thì Người lại càng thêm giúp đỡ hộ phù hơn nữa: Đó là, đưa ra những phương dược phù hợp đúng thời đúng lúc, với sự Khôn Ngoan thần linh của Ngài, vốn: “Từ chân trời này, …. Vươn mạnh tới chân trời kia, cai quản mọi loài thật tốt đẹp.” (Kn 8,1). Nhưng ngay vào thời đại của chúng ta: “Tay của Đức Chúa không hề ngắn lại” (Is 59,1). Nhất là khi những sự lầm lạc đã lẻn vào và lan rộng khắp nơi, đến nỗi làm cho người ta có thể lo sợ rằng các nguồn mạch của đời sống Kitô hữu có thể bị khô cạn đi, bởi nó cản trở chẳng cho con người kính mến và chạy đến cùng Thiên Chúa nữa. Bây giờ, vì có thể một số người không biết, và có những người khác không để ý, những lời phàn nàn rất mến thương mà Chúa Giêsu đã thốt ra khi Người hiện ra với chân phước Magarita Maria Alacoque, và những điều tương tự mà cùng lúc đó Người đã yêu cầu và mong đợi ở con người, vì lợi ích sau cùng của chính họ. Thưa chư huynh khả kính, Chúng tôi rất vui được nói chuyện với chư huynh một lát về bổn phận phải đền bồi cách xứng đáng với Trái Tim Cực Thánh Chúa Giêsu. Với ý định này chúng tôi mong là chư huynh có thể cẩn thận dạy cho đàn chiên của mình những điều mà Chúng tôi đã truyền đạt cho chư huynh, và xin chư huynh khuyến khích họ đưa những điều đó vào việc thực hành.
2. Trong vô số bằng chứng về lòng nhân từ vô biên của Đấng Cứu chuộc chúng ta, có một điều nổi bật rõ ràng, đó là khi lòng bác ái của người Kitô hữu đang dần nguội lạnh, thì chính Tình Yêu Thần Linh đã được nêu cao để đón nhận sự tôn vinh qua một việc phụng tự đặc biệt, và kho tàng ân phúc dồi dào của Người đã được bày tỏ rộng rãi qua hình thức sùng kính mà người ta dâng lên Trái Tim Cực Thánh Chúa Giêsu “trong Người có cất giấu mọi kho tàng của sự khôn ngoan và hiểu biết.” (Cl 2,3). Như thuở xưa, khi loài người bước ra khỏi tàu Noe, Thiên Chúa đã đặt “chiếc cầu vồng của Ngài trên những đám mây” (St 9, 13), tỏa sáng như dấu hiệu của một giao ước thân thiết; trong những thời kỳ hỗn loạn nhất của thời đại gần đây, khi lạc thuyết Jansenius[i], vốn là thứ xảo quyệt tinh vi hơn cả, và là thù địch với Đức Mến và lòng sùng kính đối với Thiên Chúa, đang len lỏi vào (Giáo hội) và rao giảng rằng Thiên Chúa không nên được yêu như một người Cha mà thay vào đó nên bị sợ hãi như một vị thẩm phán nghiêm khắc không dung thứ; thì chính Chúa Giêsu rất nhân lành đã tỏ bày Thánh Tâm Cực Thánh của Người cho muôn dân, giương cao như một dấu chỉ của hòa bình và bác ái, loan báo một chiến thắng chắc chắn trong cuộc chiến thiêng liêng. Và thật vậy, vị Tiền Nhiệm khả kính của chúng tôi, Đức Giáo Hoàng Lêô XIII, khi chiêm ngưỡng lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu được khơi dậy đúng vào thời điểm thuận hợp, đã nói thật xác đáng trong Thông điệp Annum Sacrum của ngài: “Thuở ban đầu, khi Hội Thánh còn bị áp bức dưới ách thống trị của các hoàng đế Rôma, thì chính Thánh Giá, được tỏ hiện trên trời trước mắt vị Hoàng Đế trẻ, đã trở nên dấu chỉ và nguyên nhân của chiến thắng mau chóng tiếp theo sau. Và hôm nay đây, một dấu chỉ khác, vô cùng tốt lành và thần linh, lại được ban cho chúng ta chiêm ngắm: đó là Thánh Tâm Chúa Giêsu, trên đó có Thánh Giá rực sáng huy hoàng giữa biển lửa tình yêu. Chính nơi đây mọi niềm trông cậy phải được đặt để; chính từ đây ơn cứu độ của nhân loại phải được tìm kiếm và hy vọng.”
3. Phải vậy, thưa chư huynh đáng kính; Vì lẽ, toàn bộ tôn giáo và quy tắc của đời sống trọn lành (của chúng ta) chẳng phải được chứa đựng trong Dấu Chỉ đầy hồng phúc ấy, cũng như trong hình thức lòng đạo phát sinh từ Dấu Chỉ ấy sao? Bởi lẽ Dấu Chỉ ấy vừa hướng dẫn tâm trí chúng ta đến việc hiểu biết Đức Kitô Chúa Chúng Ta một cách sâu xa hơn, vừa uốn nắn tâm hồn (chúng ta) một cách hữu hiệu hơn để yêu mến Người cách mãnh liệt và noi gương Người một cách triệt để hơn. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi các vị Tiền nhiệm của tôi luôn kiên trì bảo vệ hình thức tôn kính được thừa nhận này khỏi những lời chỉ trích của những kẻ vu khống, đồng thời ca ngợi nó bằng những lời tán dương cao quý và nhiệt thành, thúc đẩy nó theo như nhu cầu của thời đại và hoàn cảnh đòi hỏi. Hơn nữa, nhờ sự linh hứng của ân sủng Chúa, lòng tôn kính đạo đức của các tín hữu đối với Thánh Tâm Chúa Giêsu đã phát triển mạnh mẽ theo thời gian; Vì vậy, các hội đoàn đạo đức để cổ vũ việc thờ phượng Thánh Tâm Chúa đã được thiết lập khắp nơi, và tục lệ lãnh nhận Mình Thánh Chúa vào ngày thứ Sáu đầu tháng theo mong muốn của Chúa Giêsu đã được thực hành rộng rãi.
4. Nhưng chắc chắn rằng, trong những điều thuộc về việc thờ kính Thánh Tâm Chúa, một vị trí đặc biệt phải được dành cho việc Dâng hiến, qua đó chúng ta dâng mình và mọi sự thuộc về chúng ta cho Thánh Tâm Chúa Giêsu, đồng thời thừa nhận rằng tất cả những gì chúng ta có đều xuất phát từ tình yêu vĩnh cửu của Thiên Chúa. Khi Đấng Cứu Thế của chúng ta đã dạy cho thánh nữ Margarita Maria người môn đệ (thân thiết) thanh khiết nhất của Thánh Tâm Người đó là: Người đã khát khao rằng bổn phận tôn sùng này phải được nhân loại dâng lên Người và được thúc đẩy làm điều ấy không phải vì quyền lợi của Người, nhưng vì tình yêu vô biên của Người dành cho ta. Chính thánh nữ, cùng với cha linh hướng của mình là chân phước Claude de la Colombière, đã là những người đầu tiên thực thi việc sùng kính ấy. Từ đó, theo dòng thời gian, từng cá nhân, rồi đến các gia đình, các hội đoàn, và sau cùng là các nhà hữu trách dân sự, các thành phố và các vương quốc cũng lần lượt noi theo. Thế nhưng, từ thế kỷ trước cho đến thế kỷ này, tình hình đã trở nên nghiêm trọng đến mức do những âm mưu của những kẻ gian ác, vương quyền của Đức Kitô, Chúa chúng ta, đã bị chối bỏ; và người ta công khai phát động cuộc chiến chống lại Hội Thánh, bằng việc ban hành các luật lệ và cổ võ những cuộc trưng cầu dân ý trái nghịch với Luật Thiên Chúa và luật tự nhiên; hơn thế nữa, còn tổ chức những hội nghị của những kẻ lớn tiếng kêu lên: “Chúng tôi không muốn ông này làm vua chúng tôi” (Lc 19,14). Trước tình cảnh ấy, từ việc Thánh hiến dâng lên Thánh Tâm Chí Thánh nói trên đã vang lên tiếng nói mạnh mẽ của toàn thể những ai tôn sùng Thánh Tâm, như thể chỉ là một tiếng nói duy nhất, để bênh vực vinh quang của Người và tuyên xưng quyền tối thượng của Người: “Đức Kitô phải nắm vương quyền” (1 Cr 15,25); “Xin cho Triều Đại Cha mau đến” (Mt 6,10). Và như thế, thật hồng phúc biết bao, ngay đầu thế kỷ này, toàn thể nhân loại vốn thuộc quyền sở hữu tự nhiên của Đức Kitô, Đấng trong Người muôn vật được quy tụ và canh tân (Ep 1,10), đã được long trọng dâng hiến cho Thánh Tâm Chí Thánh, trong niềm hân hoan và đồng thuận của toàn thể thế giới Kitô giáo, bởi vị Tiền Nhiệm khả kính của Chúng Tôi là Đức Giáo hoàng Lêô XIII.
5. Bây giờ. Những sự việc đã được khởi sự một cách thuận lợi và tốt lành như thế, theo như chúng tôi đã dạy trong thông điệp Quas Primas, thì nay, thuận theo những ước nguyện và lời khẩn cầu lâu dài của đông đảo các Giám mục và giáo dân thì Chúng Tôi, nhờ ân sủng của Thiên Chúa, đưa tới chỗ hoàn tất và kiện toàn việc đó. Và khi vào cuối Năm Toàn Xá, chúng tôi đã thiết lập Lễ Đức Kitô Vua Vũ Trụ, để toàn thể thế giới Kitô giáo long trọng cử hành. Khi thiết lập lễ ấy, chúng tôi không chỉ muốn làm sáng tỏ quyền tối thượng mà Đức Kitô nắm giữ trên toàn thể vũ trụ, trên xã hội dân sự, trên đời sống gia đình và trên từng con người, mà còn muốn hướng lòng các tín hữu tới niềm vui hân hoan chờ đón ngày trọng đại ấy, ngày mà toàn thể nhân loại, trong hoan lạc và tự nguyện, sẽ quy phục dưới quyền cai trị dịu ngọt của Đức Kitô Vua. Vì lý do đó, chúng tôi cũng đã truyền rằng việc dâng hiến này phải được lặp lại hằng năm vào dịp cử hành lễ trọng ấy, để nhờ đó, hoa trái của việc dâng hiến được bảo đảm dồi dào và chắc chắn hơn; và để mọi dân nước được liên kết với nhau trong tình bác ái Kitô giáo, trong sự hòa giải và bình an, nơi Thánh Tâm Chúa là Vua của các vua và Chúa các chúa.
6. Tuy nhiên, cùng với tất cả những bổn phận ấy nhất là hoa trái của việc dâng hiến đã được xác nhận cách trọng thể qua lễ kính Đức Kitô Vua vẫn cần phải thêm vào đó một điều nữa. Chính vì điều ấy mà hôm nay, nhân dịp thuận tiện này, chúng tôi muốn ngỏ lời với chư huynh khả kính một cách đặc biệt: Chúng Tôi muốn nói về bổn phận đền bồi xứng hợp hay đền tạ, một nghĩa vụ phải được dâng lên Thánh Tâm Cực Thánh Chúa Giêsu. Thật vậy, nếu điều chính yếu và cao cả nhất trong việc Dâng Hiến là việc thụ tạo đáp lại tình yêu của Đấng Tạo Hóa bằng tình yêu của chính mình, thì tất yếu phải có điều tiếp theo sau, đó là: Khi Tình Yêu vĩnh cửu ấy bị quên lãng hay xúc phạm, thì cần phải có một hình thức đền bù nào đó cho những tổn thương ấy. Và bổn phận ấy, theo truyền thống, được gọi là việc đền tạ (reparation).
7. Dù trong cả hai phương diện trên, chúng ta đều được thúc đẩy bởi cùng một động lực, nhưng chúng ta lại bị ràng buộc vào bổn phận đền bồi và phạt tạ bởi một lý do sâu xa hơn, xuất phát từ sự công bình và lòng kính mến. Về sự công bình, bởi vì cần phải đền bù cho những xúc phạm mà tội lỗi chúng ta đã gây nên đối với Thiên Chúa, và nhờ việc đền tội mà trật tự đã bị tổn thương được phục hồi. Về lòng kính mến, để chúng ta có thể thông phần vào cuộc Khổ nạn của Đức Kitô, Đấng đã chịu đau khổ và “đầy nỗi nhuốc nhơ” (Ac 3,30), và dù trong sự nghèo hèn của mình, chúng ta cũng có thể dâng lên Người đôi chút an ủi. Bởi vì tất cả chúng ta đều là tội nhân, mang nặng nhiều thiếu sót, nên việc tôn vinh Thiên Chúa không chỉ hệ tại ở việc thờ lạy Người với lòng tôn kính xứng hợp trước uy nghi vô biên của Người; hay cầu nguyện để nhìn nhận quyền tối thượng của Người; hoặc tạ ơn để ca ngợi lòng quảng đại khôn cùng của Người; mà còn phải thêm vào đó việc đền bù xứng đáng dâng lên Thiên Chúa Đấng Công Bình nữa “vì vô số tội lỗi, xúc phạm và thiếu sót của chúng ta.” Do đó, cùng với việc Dâng Hiến, nhờ đó chúng ta được tận hiến cho Thiên Chúa và được gọi là thánh thuộc về Người và với sự thánh thiện và kiên định mà theo lời Tiến sĩ Thiên thần, thì đó vốn là đặc tính của việc thánh hiến (Summa Theologiae II-II, q.81, a.8 c.) cần phải có thêm việc đền bồi, nhờ đó tội lỗi được xóa sạch hoàn toàn, để sự thánh thiện của Công lý tối cao không phải trừng phạt sự bất xứng đáng hổ thẹn của chúng ta, cũng như không khước từ lễ dâng của ta như điều ghê tởm, nhưng vui lòng chấp nhận nó như của lễ đẹp lòng Người.
8. Hơn nữa, bổn phận đền bồi này được đặt trên toàn thể nhân loại, bởi vì như đức tin Kitô giáo dạy chúng ta rằng sau khi Ađam sa ngã cách thảm thương, loài người đã bị nhiễm vết nhơ nguyên tội, trở nên lệ thuộc vào dục vọng và bại hoại khốn cùng, đáng lẽ đã phải rơi vào diệt vong muôn đời. Tuy nhiên, điều ấy lại bị những kẻ tự cho mình là khôn ngoan trong thời đại chúng ta chối bỏ. Họ theo lầm lạc xưa của Pelagiô, cho rằng bản tính con người tự nó có một sức mạnh tự nhiên, nhờ đó có thể vươn lên điều thiện cao cả mà không cần ơn Chúa. Nhưng Thánh Tông Đồ đã bác bỏ những ảo tưởng kiêu căng ấy của lòng người, khi Người nhắc nhở rằng: “chúng ta tự bản tính là con cái của cơn thịnh nộ”[1] (Ep 2,3). Thật vậy, ngay từ thuở ban đầu, nhân loại theo một cách nào đó đã nhận biết món nợ đền tội chung ấy, và được thúc đẩy bởi bản năng tự nhiên nên họ đã nỗ lực làm nguôi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa bằng những hy tế công khai.
9. Tuy nhiên, không một quyền năng thụ tạo nào có thể đủ để đền bù tội lỗi của nhân loại, nếu như Con Thiên Chúa đã không mặc lấy bản tính con người hầu cứu chuộc nhân loại ấy. Chính Đấng Cứu Chuộc loài người đã phán dạy điều này qua miệng Thánh Vịnh gia: “Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể. Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội. Bấy giờ con mới thưa : Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài” (Hr 10,5–7). Thật vậy, “Chính Người đã mang lấy các tật nguyền của chúng ta, đã gánh chịu các nỗi đau khổ của chúng ta; Người đã bị đâm thâu vì tội lỗi chúng ta” ( Is 53,4–5). “Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá” (1 Pr 2,24), “Người đã xoá sổ nợ bất lợi cho chúng ta, sổ nợ mà các giới luật đã đưa ra chống lại chúng ta. Người đã huỷ bỏ nó đi, bằng cách đóng đinh nó vào thập giá.” (Cl 2,14), “để một khi đã chết đối với tội, chúng ta sống cuộc đời công chính” (1 Pr 2,24). Và dù ơn cứu chuộc dồi dào của Đức Kitô đã hoàn toàn tha thứ mọi lỗi lầm của chúng ta (x. Cl 2,13), thì trong sự an bài kỳ diệu, Thiên Chúa lại muốn cho những gì còn thiếu trong cuộc khổ nạn của Đức Kitô được bổ khuyết nơi thân xác chúng ta, vì lợi ích cho Thân Thể Người là Hội Thánh (x. Cl 1,24) mà qua đó, cùng với những lời ngợi khen và hy tế đền tạ “mà Chúa Kitô đã thay cho tội nhân mà dâng lên Thiên Chúa”, chúng ta cũng có thể hiệp dâng những lời ngợi khen cùng sự đền bồi của chính mình; vì chúng ta có bổn phận phải làm như thế. Tuy nhiên, phải luôn ghi nhớ rằng toàn bộ công nghiệp của việc đền bồi đều phát xuất từ hy tế đổ máu duy nhất của Đức Kitô, hy tế ấy không ngừng được tái diễn trên bàn thờ cách không đổ máu. “Vì chỉ có một tế vật duy nhất; Đấng nay dâng hiến nhờ tác vụ của các linh mục chính là Đấng đã tự hiến trên thập giá xưa kia; chỉ khác nhau nơi cách thức hiến dâng mà thôi” (Công đồng Trentô, Khóa XXIII, Ch. 2). Bởi thế, cùng với Hy tế Thánh Thể cực trọng này, phải có sự hiến dâng bản thân của các thừa tác viên cũng như của toàn thể tín hữu, để mọi người có thể “hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa” (Rm 12,1). Thánh Cyprianô đã không ngần ngại khẳng định rằng: “Hy tế của Chúa sẽ không được cử hành với sự thánh hóa trọn vẹn, nếu lễ vật và hy tế của chính chúng ta không tương hợp với cuộc Thương Khó của Người”. (Thư gửi Êphêsô, số 63). “Vì lẽ đó, vị Tông đồ khuyên nhủ chúng ta rằng: “khi mang nơi thân mình cuộc Thương Khó của Đức Giêsu” (2 Cr 4, 10), được cùng mai táng với Đức kitô và nên một với Người trong cái chết Giống như cái chết của Người (x. Rm 6, 4-5), thì chúng ta không những phải đóng đinh xác thịt mình cùng với các nết xấu và dục vọng (x. Gl 5, 24), “thoát khỏi cảnh hư đốn do dục vọng gây ra trong trần gian.” (2 Pr 1, 4), mà còn phải làm cho “Để sự sống của Đức Giê-su cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng ta” (2 Cr 4, 10); và khi đã trở nên những người thông phần vào chức tư tế đời đời của Người, chúng ta phải dâng tiến “lễ phẩm và hy tế để đền tội” (Hr 5, 1). Không chỉ những ai được Chúa Giêsu vị Thượng Tế tối cao của chúng ta tuyển chọn làm thừa tác viên để dâng lễ vật tinh tuyền lên Danh Chúa khắp mọi nơi từ đông sang tây (Mk 1, 11) mới được dự phần vào chức tư tế nhiệm mầu cùng nhiệm vụ đền tạ và hy sinh. Nhưng là toàn thể dân Kitô hữu, được Thủ Lãnh các Tông Đồ gọi là “dòng giống được tuyển chọn, hàng tư tế vương giả” (1 Pr 2,9), cũng được mời gọi hiến dâng của lễ đền tội cho chính mình và cho toàn thể nhân loại (x. Hr 5,3), theo cùng một cách thức như “Thượng tế nào cũng là người được chọn trong số người phàm, và được đặt lên làm đại diện cho loài người, trong các mối tương quan với Thiên Chúa” (Hr 5,1).
10. Bởi lẽ, của lễ và hy tế của chúng ta càng tương hợp với hy tế của Chúa bao nhiêu, nghĩa là chúng ta càng hiến dâng tình yêu cùng những ước muốn của mình, và càng đóng đinh xác thịt mình vào thập giá thiêng liêng như vị Tông đồ đã dạy bao nhiêu, thì chúng ta sẽ gặt hái được cho bản thân và cho tha nhân những hoa trái dồi dào bấy nhiêu từ nguồn sự bồi hoàn và đền tội ấy. Vì có một sự hiệp nhất kỳ diệu và mật thiết giữa tất cả các tín hữu với Đức Kitô, như sự hiệp nhất giữa Đầu và các chi thể. Hơn nữa, nhờ mầu nhiệm Các Thánh thông công mà chúng ta tuyên xưng trong Kinh Tin Kính Công giáo, không những từng cá nhân mà cả các dân tộc được kết hợp với nhau, và còn được kết hợp với chính Người, “ vì Người là Đầu. Chính Người làm cho các bộ phận ăn khớp với nhau và toàn thân được kết cấu chặt chẽ, nhờ mọi thứ gân mạch nuôi dưỡng và mỗi chi thể hoạt động theo chức năng của mình. Như thế Người làm cho toàn thân lớn lên và được xây dựng trong tình bác ái.” (Ep 4,15–16). Chính sự hiệp nhất ấy mà Đấng Trung Gian giữa Thiên Chúa và loài người là Đức Giêsu Kitô, khi gần đến giờ chịu chết, đã khẩn cầu cùng Chúa Cha: “Con ở trong họ và Cha ở trong Con, để họ được hoàn toàn nên một” (Ga 17,23).
11. Vì thế, nếu việc hiến dâng là lời tuyên xưng và củng cố sự hiệp thông với Chúa Kitô, thì việc đền bồi chính là khởi đầu cho sự hiệp thông ấy bằng cách tẩy xóa các lỗi lầm, rồi làm cho nó nên trọn hảo khi ta thông phần vào những đau khổ của Người, và sau cùng là đưa đến chỗ hoàn tất bằng việc dâng chính mình làm hy lễ vì anh chị em. Và đó quả thật là ý định của Chúa Giêsu giàu lòng thương xót khi Người tỏ lộ Thánh Tâm cho chúng ta: một Trái tim mang những dấu tích của cuộc khổ nạn và hừng hực ngọn lửa tình yêu. Qua các dấu tích ấy, Người muốn chúng ta nhận biết sự độc dữ vô cùng của tội lỗi; và qua ngọn lửa kia, Người muốn chúng ta chiêm ngưỡng đức ái vô tận của Đấng Cứu Chuộc; để từ đó, chúng ta thêm lòng gớm ghét tội lỗi mãnh liệt hơn, đồng thời biết đáp đền tình yêu của Người bằng một tình yêu nồng cháy hơn.
12. Thật vậy, tinh thần phạt tạ hoặc đền bồi luôn chiếm vị trí hàng đầu trong việc thờ phượng dâng lên Trái Tim Chí Thánh của Đức Giêsu, và không gì phù hợp hơn với nguồn gốc, bản chất, quyền năng, và những thực hành đặc thù của lòng sùng kính này, như được chứng minh qua các ghi chép lịch sử và tập tục, cũng như qua phụng vụ thánh và các sắc lệnh của các Đức Giáo Hoàng. Thật vậy, khi Chúa Kitô hiện ra với Thánh nữ Margarita Maria để mặc khải cho bà tình yêu vô biên của Người, thì đồng thời, với dáng vẻ của một người đang sầu khổ, Người cũng than phiền về biết bao xúc phạm nặng nề mà những kẻ bội bạc đã gây ra cho Người. Chúng Tôi ước mong sao những lời than vãn ấy được ghi tạc vào tâm trí hàng giáo hữu và không bao giờ bị lãng quên: Người phán “Hãy xem Thánh Tâm này” “một Thánh Tâm đã yêu thương loài người dường ấy, đã tuôn đổ trên họ mọi ơn lành, nhưng để đáp lại tình yêu vô bờ bến đó, Người chỉ nhận được sự thờ ơ, khinh miệt, và thường lại từ chính những kẻ có bổn phận và mắc nợ tình yêu cách đặc biệt hơn cả”. Để tẩy xóa những lỗi lầm ấy, Người đã nhắn nhủ thực hiện nhiều việc đạo đức, và đặc biệt là những việc sau đây vốn làm đẹp lòng Người nhất: đó là tiến lại Bàn Thờ với mục đích đền bồi tội lỗi qua việc “Rước Lễ Đền Tạ”; và tương tự như vậy, dâng những lời khẩn nguyện và kinh nguyện đền tội kéo dài suốt một giờ đồng hồ, mà chúng ta vẫn gọi cách chính đáng là “Giờ Thánh”. Những việc đạo đức này đã được Giáo hội phê chuẩn và ban tặng dồi dào các ơn đại xá.
13. Nhưng làm sao những nghi thức đền bồi này có thể đem lại niềm an ủi vào lúc này, khi Chúa Kitô đã ngự trị trong vinh phúc trên Trời? Về điều này, chúng ta có thể dùng lời của Thánh Augustinô rất thích hợp để nói rằng: “Hãy cho tôi một người đang yêu, và người đó sẽ hiểu điều tôi nói” (Trat. XXVI, 4). Thật vậy, bất cứ ai có lòng yêu mến Chúa thiết tha, khi nhìn ngược dòng thời gian, đều có thể chiêm niệm về Chúa Kitô: thấy Người đang lao nhọc vì con người, đang sầu khổ, đang chịu đựng những gian nan tột cùng “vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta”; thấy Người gần như kiệt quệ vì buồn phiền, lo âu, và thậm chí là “bị đâm vì chúng ta phạm tội” (Is 53, 5), để rồi chính nhờ những vết bầm dập của Người mà chúng ta được chữa lành. Tâm hồn các tín hữu sốt sắng chiêm niệm những điều ấy một cách chân thực hơn, vì tội lỗi và độc ác của con người trong mọi thời đại chính là nguyên cớ khiến Chúa Kitô bị nộp và chịu chết. Ngay cả giờ đây, tự thân những tội lỗi ấy cũng sẽ mang cái chết đến cho Chúa Kitô, đi kèm với những nỗi ưu sầu đau đớn tương tự, vì mỗi tội lỗi theo cách riêng của nó đều được coi là làm tái diễn cuộc khổ nạn của Chúa: “Họ tự đóng đinh Con Thiên Chúa vào thập giá một lần nữa và rêu rao Người làm trò cười” (Hr 6, 6). Giờ đây, nếu linh hồn Chúa Kitô đã phải “buồn rầu đến chết được” vì những tội lỗi của chúng ta vốn còn thuộc về tương lai nhưng đã được Người tiên liệu, thì không thể nghi ngờ rằng ngay lúc đó, Người cũng đã nhận được niềm an ủi nào đó từ việc đền tạ của chúng ta mà Người cũng đã thấy trước; như khi “có một thiên sứ từ trời hiện ra với Người” (Lc 22, 43), để Thánh Tâm Người đang trĩu nặng vì mệt mỏi và lo âu có thể tìm thấy sự ủi an. Và như thế, ngay cả bây giờ, bằng một cách thức nhiệm mầu nhưng chính đáng, chúng ta có thể và có bổn phận phải an ủi Thánh Tâm Chí Thánh hằng bị đâm thấu bởi tội lỗi của những kẻ bội bạc. Vì như chúng ta đọc thấy trong phụng vụ thánh, chính Chúa Kitô đã dùng miệng vị Thánh vịnh mà than thở rằng Người bị bạn hữu bỏ rơi: “Lời thoá mạ làm tim này tan vỡ, con héo hắt rã rời. Nỗi sầu riêng, mong người chia sớt, luống công chờ, không được một ai; đợi người an ủi đôi lời, trông mãi trông hoài mà chẳng thấy đâu!” (Tv 68, 21).
14. Thêm vào đó, cuộc khổ nạn đền tội của Chúa Kitô vẫn đang được tái diễn, và theo một cách nào đó, đang được tiếp nối và hoàn tất nơi Thân thể mầu nhiệm của Người là Hội thánh. Thật vậy, xin mượn lời của Thánh Augustinô để nói rằng: “Chúa Kitô đã chịu mọi đau khổ mà Người phải chịu; giờ đây không còn thiếu một mức độ đau khổ nào nữa. Như thế, các đau khổ đã hoàn tất, nhưng là hoàn tất nơi vị Đầu; trái lại, những đau khổ của Chúa Kitô vẫn còn đang tiếp diễn nơi các chi thể của Người” (In Psalm lxxxvi). Quả thật, chính Chúa Giêsu đã đoái thương giải thích điều này khi Người phán với Saolô bấy giờ còn đang “hằm hằm đe dọa và tàn sát” (Cv 9, 1): “Ta là Giêsu mà ngươi đang bắt bớ” (Cv 9, 5). Lời ấy cho thấy rõ rằng: khi những cuộc bách hại dấy lên chống lại Hội thánh, thì chính vị là Đầu Chí Thánh của Hội thánh cũng bị tấn công và khổ lụy. Vì vậy, Chúa Kitô vẫn đang tiếp tục chịu khổ nơi Thân thể mầu nhiệm của Người, và Người chính đáng mong muốn chúng ta trở nên những kẻ thông phần vào công nghiệp đền tội của Người. Điều này cũng được đòi hỏi bởi sự kết hợp mật thiết giữa chúng ta với Người; vì một khi đã là “thân thể Chúa Kitô và mỗi người là một bộ phận” (1 Cr 12, 27), thì hễ vị Đầu chịu đau khổ điều gì, các chi thể cũng phải cùng chịu đau khổ như vậy (x. 1 Cr 12, 26).
15. Giờ đây, bất cứ ai dùng con mắt và tâm trí để quan sát thế giới đang “nằm dưới ách thống trị của ác thần” (1 Ga 5, 19) như Chúng Tôi đã nói ngay từ đầu, đều sẽ thấy rõ sự cần thiết cấp bách của việc đền bồi hay phạt tạ, đặc biệt là trong thời đại chúng ta. Bởi lẽ, từ khắp mọi nơi, tiếng than khóc của các dân tộc đã thấu đến tai Chúng Tôi; các thủ lãnh và quân vương đã đứng lên cùng nhau liên minh để chống lại Chúa và Hội thánh của Người (x. Tv 2, 2). Quả thật, trên khắp các vùng miền ấy, chúng ta thấy mọi lề luật của con người lẫn của Thiên Chúa đều bị xáo trộn. Các thánh đường bị triệt hạ và phá hủy; các tu sĩ và trinh nữ tận hiến bị xua đuổi khỏi nhà mình, bị ngược đãi bằng những hành vi bạo tàn, bị bỏ đói và cầm tù. Những đoàn thiếu nhi nam nữ bị giật khỏi lòng Mẹ Hội Thánh, bị xúi giục từ bỏ Đức Kitô, nói lời lăng nhục và sa vào những tội lỗi dâm ô tồi tệ nhất. Toàn thể dân Kitô giáo đang trong cảnh ngã lòng và tan tác đau thương, luôn đối diện với nguy cơ đánh mất đức tin hoặc phải chịu cái chết tàn khốc nhất. Thực trạng này đau buồn đến mức người ta có thể nói rằng những sự kiện ấy chính là điềm báo cho “khởi đầu của những cơn đau đớn”, tức là những tai ương sẽ do “người gian ác” gây ra. Đó là kẻ “tôn mình lên trên tất cả những gì được gọi là thần và được sùng bái” (2 Tx 2, 4).
16. Nhưng thưa chư huynh khả kính, điều đáng than van hơn nữa là ngay giữa hàng ngũ các tín hữu những người đã được tẩy rửa bằng Máu Chiên Con vẹn sạch qua bí tích Thánh Tẩy và được dư dật ơn sủng vẫn còn đó quá nhiều người thuộc mọi tầng lớp đang chịu cảnh dốt nát lạ lùng về nhưng điều thiêng liêng và bị tiêm nhiễm bởi những học thuyết sai lạc. Xa lìa nhà Cha, họ dấn thân vào một đời sống ngập chìm trong nanh vuốt của nết xấu: một đời sống chẳng được ánh sáng đức tin chân thật chiếu soi, chẳng được niềm hy vọng vào phúc lạc mai sau làm cho hân hoan, cũng chẳng được ngọn lửa đức ái sưởi ấm và nuôi dưỡng; đến nỗi họ thực sự như đang ngồi trong bóng tối và bóng tử thần. Hơn nữa, trong cộng đoàn tín hữu, sự thờ ơ với kỷ luật Hội Thánh và những truyền thống cổ xưa vốn là nền tảng của đời sống Kitô hữu đang gia tăng trầm trọng. Chính những truyền thống ấy là thước đo mà xã hội, gia đình được điều hành và sự thánh thiện của hôn nhân được bảo vệ. Việc giáo dục con cái hoặc bị bỏ mặc hoàn toàn, hoặc bị làm cho hư hỏng bởi sự nuông chiều thái quá, và Hội Thánh thậm chí còn bị tước đoạt quyền giáo dục Kitô giáo cho giới trẻ nữa. Thật đáng buồn vì sự thiếu đức hạnh Kitô giáo, đặc biệt là trong lối sống và phong cách của phụ nữ; cùng với đó là lòng tham không đáy đối với những sự chóng qua, sự thiếu chừng mực trong các công việc trần thế, tham vọng vô độ nhằm tìm kiếm sự ủng hộ của đám đông, sự coi thường thẩm quyền hợp pháp, và cuối cùng là sự khinh thường Lời Chúa, điều làm tổn thương chính đức tin hoặc đẩy nó vào nguy cơ sụp đổ cận kề.
17. Thế nhưng, tất cả những sự dữ ấy dường như đều lên đến đỉnh điểm nơi sự hèn nhát và lười biếng của những kẻ tựa như các môn đệ đã ngủ mê và bỏ chạy đang nao núng trong đức tin và khốn khổ thay, họ bỏ mặc Chúa Kitô giữa lúc Người bị nỗi ưu sầu đè nặng hay bị vây hãm bởi những thuộc hạ của Satan. Đau đớn hơn nữa là sự bội tín của những kẻ khác, theo gương kẻ phản bội Giu-đa, họ hoặc là rước Mình Thánh Chúa một cách liều lĩnh và phạm thánh, hoặc là đào ngũ sang phe quân địch. Và như thế, dù không muốn, tâm trí Chúng Tôi vẫn dấy lên ý nghĩ rằng những ngày mà Chúa chúng ta đã tiên báo đang cận kề: “Vì tội ác gia tăng, nên lòng yêu mến của nhiều người sẽ nguội lạnh”. (Mt 24, 12).
18. Giờ đây, bất cứ tín hữu nào khi thành tâm chiêm niệm những điều ấy, hẳn sẽ thấy lòng mình bừng cháy đức ái của Chúa Kitô đang chịu thương khó. Từ đó, họ sẽ nỗ lực mãnh liệt hơn để đền bồi tội lỗi của chính mình và của tha nhân, nhằm khôi phục danh dự cho Chúa Kitô và thúc giữ ơn cứu độ đời đời cho các linh hồn. Thật vậy, như lời của thánh Tông đồ nói : “Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội.” (Rm 5, 20) có thể được dùng để mô tả thời đại hôm nay. Bởi lẽ, trong khi sự gian ác của con người gia tăng quá đỗi, thì đồng thời nhờ ơn Chúa Thánh Thần soi sáng, số lượng các tín hữu cả nam và nữ cũng tăng lên một cách lạ lùng, những người đang hăm hở nỗ lực đền tạ biết bao xúc phạm đã gây ra cho Thánh Tâm Chúa. Và hơn thế nữa, họ không ngần ngại dâng chính mình cho Chúa Kitô làm hy lễ. Quả thật, nếu ai đó đem lòng yêu mến mà suy đi ngẫm lại những điều Chúng Tôi vừa nói và ghi tạc chúng vào sâu tận tâm can, người ấy chắc chắn sẽ kinh hãi mọi tội lỗi như tránh xa sự dữ tồi tệ nhất. Hơn thế, người ấy sẽ phó thác trọn vẹn bản thân cho thánh ý Thiên Chúa và ra sức khôi phục danh dự đã bị tổn thương của uy linh Thiên Chúa, bằng cách kiên trì cầu nguyện, tự nguyện hãm mình, kiên nhẫn chịu đựng những nỗi ưu phiền ập đến, và sau cùng là hiến dâng cả cuộc đời mình cho việc đền tạ này.
19. Cũng chính vì lý do đó, nhiều dòng tu nam cũng như nữ đã được thiết lập với mục đích là dùng sự phục vụ tận tụy cả ngày lẫn đêm để phần nào chu toàn phận vụ của vị Thiên thần an ủi Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu. Từ đó, các hiệp hội được nảy sinh với các tín hữu sốt sắng cùng nhau gánh vác trọng trách đền tạ qua các việc đạo đức và thực thi các nhân đức phù hợp đã được Tòa Thánh phê chuẩn và ban tặng nhiều ơn xá. Sau cùng, xin được kể ra những điều khác, chính mục đích đền bồi danh dự Chúa bị xúc phạm mà đã khai mở khắp nơi những việc sùng kính và các cuộc biểu dương long trọng, không chỉ do các cá nhân tín hữu đạo đức, mà còn do các giáo xứ, giáo phận và các thành phố đứng ra tổ chức.
20. Vì những lẽ đó, thưa chư huynh khả kính, cũng giống như sự dâng hiến khởi đầu từ những bước khiêm tốn, rồi sau đó lan rộng khắp nơi và cuối cùng đã được Chúng Tôi phê chuẩn để trở nên trọn hảo. Thì cũng một lẽ ấy, Chúng Tôi tha thiết mong ước rằng phong trào đền bồi hay phạt tạ sốt sắng này, vốn đã được thiết lập và quảng bá cách đạo đức từ bấy lâu nay, nay cũng sẽ được thẩm quyền Tông tòa của Chúng Tôi chuẩn nhận cách mạnh mẽ hơn, và được toàn thể thế giới Công giáo cử hành cách trọng thể hơn. Vì vậy, Chúng Tôi quyết định và truyền dạy rằng: hằng năm vào lễ Cực Thánh Trái Tim Chúa Giêsu một ngày lễ mà nhân dịp này, Chúng Tôi cũng đã truyền lệnh nâng lên bậc “Lễ Trọng” (Lễ hạng nhất có tuần bát nhật) tại tất cả các nhà thờ trên toàn thế giới, phải long trọng đọc kinh Đền Tạ hay còn gọi là lời tuyên xưng đền tạ lên Đấng Cứu Chuộc hết lòng yêu thương của chúng ta, theo đúng nguyên văn bản đính kèm sau đây. Việc này nhằm mục đích để mọi lỗi lầm của chúng ta được gột rửa bằng nước mắt đơn sơ và cho những quyền uy của Chúa Kitô, vị Vua tối cao và là Chúa tể đầy lòng ưu ái của chúng ta bị xúc phạm được đền bồi.
21. Thưa chư huynh khả kính, chắc chắn không có lý do gì để hoài nghi rằng: lòng sùng kính này được thiết lập và truyền dạy cho toàn thể Hội thánh cách sốt sắng, sẽ tuôn tràn muôn vàn ơn ích tuyệt vời không chỉ cho mỗi cá nhân mà còn cho cả cộng đoàn Giáo hội, xã hội và gia đình. Bởi lẽ chính Đấng Cứu Chuộc chúng ta đã hứa với Thánh nữ Margarita Maria rằng: “Tất cả những ai tôn vinh Thánh Tâm Người theo cách này sẽ được ban tặng dồi dào các ơn thiêng từ trời”. Thật vậy, những kẻ tội lỗi khi nhìn lên “Đấng họ đã đâm thâu” (Ga 19, 37), được đánh động bởi những tiếng thở dài và nước mắt của toàn thể Hội thánh, và biết đau đớn vì những xúc phạm đã gây ra cho vị Vua tối cao, họ sẽ “trở về với lòng mình” (Is 46, 8). Kẻo nếu cứ mãi chai đá trong lỗi lầm, thì đến khi thấy Đấng họ đã đâm thâu “ngự giá mây trời mà đến” (Mt 26, 64), bấy giờ họ mới than khóc vì Người (x. Kh 1, 7) thì đã quá muộn màng và vô ích. Trái lại, những người công chính sẽ càng trở nên công chính hơn và tiếp tục được thánh hóa (x. Kh 22, 11). Họ sẽ hiến thân trọn vẹn với một niềm nhiệt thành mới để phụng sự Vị Vua của mình, khi thấy Người bị khinh miệt, bị tấn công và bị nhục mạ bằng biết bao lời lăng nhục tồi tệ. Nhưng hơn hết, họ sẽ bừng cháy lòng nhiệt thành lo cho ơn cứu độ đời đời của các linh hồn, một khi họ suy ngẫm về lời than vãn của Lễ Tế Thần Linh: “Máu Tôi đổ ra nào có ích gì?” (Tv 29, 10), và cũng nghĩ về niềm vui mà chính Thánh Tâm Chúa Giêsu sẽ cảm nhận được “vì một người tội lỗi hối cải” (Lc 15, 10). Và đây quả thật là điều Chúng Tôi thiết tha mong đợi và tin tưởng kỳ vọng: rằng Thiên Chúa công chính và hay thương xót, Đấng đã sẵn lòng dung thứ cho thành Sô-đô-ma chỉ vì mười người công chính thì giờ đây, Người sẽ càng sẵn lòng nương tay với toàn thể nhân loại hơn nữa, khi Người được đánh động bởi những lời nài van khiêm hạ và được nguôi cơn giận trước những lời nguyện cầu của cộng đoàn tín hữu. Những người đang hiệp thông cùng Chúa Kitô là Đấng Trung Gian và là vị Đầu của họ, để thay mặt cho tất cả mọi người mà dâng lời cầu khẩn. Sau cùng, nguyện xin Đức Trinh Nữ Mẹ Thiên Chúa vô cùng nhân ái mỉm cười chuẩn y ý định và khát vọng này của Chúng Tôi. Vì chính Mẹ đã sinh hạ cho chúng ta Chúa Giêsu Đấng Cứu Chuộc, đã nuôi dưỡng Người và đã dâng Người làm hy lễ trên Thập giá; nên nhờ sự hiệp thông nhiệm mầu với Chúa Kitô và nhờ hồng ân đặc biệt của Người, Mẹ cũng đã trở nên và được tôn vinh cách đạo đức là “Đấng Đền Tạ[ii]”. Tin tưởng vào sự chuyển cầu của Mẹ trước Chúa Kitô, Đấng là “Trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người” (1 Tm 2, 5), nhưng đã chọn Mẹ Ngài làm trạng sư cho những kẻ tội lỗi, làm thừa tác viên và làm trung gian ban phát ân sủng Chúng Tôi ưu ái ban Phép lành Tông tòa cho chư huynh khả kính cùng toàn thể đoàn chiên đã được trao phó cho Anh Em chăm sóc, như một bảo chứng cho các hồng ân thiên quốc và là dấu chỉ của tình phụ tử của Tôi.
Ban hành ở Rôma, tại Đền thờ Thánh Phêrô, ngày 8 tháng 5 năm 1928, năm thứ bảy triều đại Giáo hoàng của Tôi.
PIÔ XI
Tu sĩ Martinô Nhật, CSC chuyển dịch
Linh mục Giu-se Nguyễn Duy Linh O.P hiệu đính
Nguồn: https://www.vatican.va/content/pius-xi/en/encyclicals/documents/hf_p-xi_enc_19280508_miserentissimus-redemptor.html
[1] “Bẩm sinh chúng tôi là những kẻ đáng chịu cơn thịnh nộ của Thiên Chúa” KT 2011 NPD-CGKPV.
[i] Lạc thuyết Jansenius (hay Chủ nghĩa Jansen – Jansenism) là một phong trào thần học gây tranh cãi trong Giáo hội Công giáo, phát triển mạnh mẽ nhất tại Pháp và Hà Lan vào thế kỷ XVII và XVIII. Dưới đây là các đặc điểm chính của học thuyết này: Nguồn gốc: Do giám mục người Hà Lan Cornelius Jansen (Jansenius) khởi xướng thông qua tác phẩm Augustinus (xuất bản sau khi ông mất năm 1640). Ông cho rằng mình chỉ đang khôi phục lại giáo lý nguyên thủy của Thánh Augustinô về ân sủng. Các luận điểm chính: 1/Phủ nhận ý chí tự do: Cho rằng bản tính con người sau tội nguyên tổ đã hư hỏng hoàn toàn. Con người không còn tự do để chọn điều thiện hay chống lại ân sủng. 2/Tiền định khắt khe: Chỉ những người được Thiên Chúa tuyển chọn (tiền định) mới nhận được ân sủng để cứu rỗi. Ân sủng này có sức mạnh tuyệt đối, khiến người nhận không thể từ chối. 3/ Luân lý khắc khổ: Đề cao lối sống đạo đức cực kỳ nghiêm ngặt. Họ quan niệm Thiên Chúa là Đấng thẩm phán đáng sợ, khiến nhiều tín hữu hãi sợ và không dám rước lễ thường xuyên vì thấy mình không xứng đáng.
Giáo hội Công giáo đã chính thức kết án học thuyết này là lạc giáo qua nhiều văn kiện, nổi bật là Sắc chỉ In Eminenti (1642) và Tông hiến Unigenitus (1713). Dù bị kết án, tinh thần “khắt khe” của phái Jansen vẫn ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống đạo đức của nhiều cộng đoàn Công giáo trong nhiều thế kỷ, cho đến khi bị đẩy lùi bởi sự sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu và các cải cách của Công đồng Vatican II. (ND).
[ii] Đấng Đền tạ: Trong tiếng Latinh là “Reparatrix “ là một tước hiệu của Đức Maria. Gọi Đức Maria là Reparatrix có nghĩa là tuyên xưng Mẹ, nhờ sự vâng phục và hiệp thông đau khổ với Đức Kitô, đã cộng tác vào việc bù đắp và khôi phục những gì tội lỗi làm hư hoại. Nhưng điều đó hoàn toàn lệ thuộc vào công trình cứu độ duy nhất của Chúa Giêsu. (ND).

Bài viết liên quan
Trái Tim Chúa Giêsu và trái tim con – Lời đáp trả tình yêu bằng cả cuộc đời
1. Lời Chúa “Người đã yêu thương họ đến cùng.” (Ga 13,1) 2. Suy niệm...
Thánh Tâm Chúa Giêsu – Trái tim phụng vụ nuôi sống Giáo Hội
1. Lời Chúa “Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy” (Lc...
Thánh Tâm Chúa Giêsu và con đường nên thánh giữa đời thường
Thánh Tâm Chúa Giêsu là mẫu gương của một tình yêu không ngừng tự hiến...
Sống chứng tá giữa xã hội – Bằng trái tim khiêm nhường và bao dung
Thế giới hôm nay không cần những bài giảng cao siêu bằng lời nói, mà...
Dâng hiến cộng đoàn cho Thánh Tâm Chúa Giêsu – Canh tân đời sống truyền giáo
1. Lời Chúa “Nơi đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì...
Tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu – Ngọn lửa thiêng sưởi ấm trái tim lạnh giá
1. Lời Chúa “Vì tội ác lan tràn, nên lòng yêu mến của nhiều người...