Lễ Mẹ Lên Trời: Khám phá vẻ đẹp nơi điều bình thường

Sáng ngày 15/8, Đức Thánh Cha đã dâng Thánh lễ trọng thể Đức Maria Hồn Xác Lên Trời tại giáo xứ thánh Tôma Villanova ở Castel Gandolfo. Đức Thánh Cha diễn tả niềm vui khi năm nay ngài cũng cùng với cộng đoàn cử hành Đại lễ Đức Maria Hồn Xác Lên Trời như năm ngoái.
 

Vatican News

Đức Thánh Cha diễn giải ý nghĩa của ngày lễ Đức Maria Hồn Xác Lên Trời:

Huấn quyền của Giáo hội dạy rằng: “Đức Maria, sau khi hoàn tất cuộc đời trần thế, đã được đưa cả hồn lẫn xác vào vinh quang thiên quốc” (PIÔ XII, Tông hiến Munificentissimus Deus, ngày 1 tháng 11 năm 1950), và chỉ cho chúng ta thấy, nơi Mầu nhiệm này, sự viên mãn của ân sủng mà Thiên Chúa đã ban cho Mẹ ngay từ khi được Thụ thai Vô nhiễm Nguyên tội (x. sđd.).

Vì thế, nhiều tác phẩm nghệ thuật diễn tả Mẹ, vào cuối cuộc đời trần thế, như một thiếu nữ tuyệt đẹp đang được nâng lên khỏi mặt đất về phía trời cao. Những tác phẩm ấy lấy cảm hứng từ khung cảnh được mô tả trong đoạn sách Khải Huyền mà chúng ta vừa nghe trong bài đọc thứ nhất: “Một người Phụ Nữ, mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng” (x. Kh 12,1), như muốn nói rằng nơi trái tim Đức Maria, trời và đất, thời gian và vĩnh cửu gặp nhau.

Thoạt nhìn, hình ảnh này dường như trái ngược với kinh nghiệm của chúng ta về những gì thời gian gây ra nơi con người. Thật vậy, khi tuổi tác tăng lên, thân thể không còn nhanh nhẹn nhưng nặng nề hơn; làn da không còn tươi trẻ nhưng mang dấu vết của tuổi già; mái tóc không thêm màu sắc và óng ả nhưng dần bạc rồi trắng. Vậy chúng ta có điểm gì chung với thiếu nữ tuyệt mỹ mà chúng ta thấy được họa trên các bức tranh nơi bàn thờ?

Để hiểu điều này, cần kết hợp hai dấu chỉ mà chúng ta vừa đề cập: thân xác không hư nát của Mẹ Thiên Chúa và trái tim vô nhiễm của Mẹ. Chính sự thanh sạch của tâm hồn, nơi Đức Maria cũng như nơi chúng ta, nhờ ân sủng của Thiên Chúa, chiếu sáng và biến đổi toàn thể con người, đưa con người vào vinh quang Nước Trời.

Việc Đức Maria được tôn vinh cả hồn lẫn xác dạy chúng ta rằng vẻ đẹp đích thực không hệ tại ở việc che giấu những dấu vết của thời gian, nhưng là cũng để cho ngay trên thân xác mình in dấu những dấu chỉ của tình yêu không bao giờ mất được (x. 1 Cr 13,8).

Điều này mời gọi chúng ta xem xét lại nhiều chuẩn mực thẩm mỹ, phần lớn mang tính hưởng thụ và tiêu dùng, mà thế gian áp đặt, có nguy cơ giam hãm chúng ta trong những ràng buộc nặng nề, khiến chúng ta lãng phí những năng lực quý giá vào những điều thực sự không quan trọng và không tồn tại mãi mãi. Trong đời sống thường ngày, chúng ta có thể gặp những người có khuôn mặt hằn dấu vết thời gian và đau khổ, nhưng lại có khả năng tỏa lan sự thanh thản, lòng nhân hậu và bình an cho những người chung quanh; trái lại, cũng có thể thấy những người bề ngoài hấp dẫn nhưng bên trong lại khô cứng và lạnh lùng. Và thật dễ nhận ra đâu là vẻ đẹp đích thực, đâu là nơi vẫn còn cần hoán cải, tha thứ và chữa lành.

Nếu thực sự muốn khám phá và vun trồng vẻ đẹp thần linh đang bao bọc chúng ta và là điều chúng ta được dựng nên để hướng tới, đồng thời lan tỏa vẻ đẹp ấy chung quanh mình, chúng ta phải học cách nhận ra nó nơi khuôn mặt dịu dàng của một em bé cũng như nơi những nếp nhăn của một người cao tuổi; nơi sức sống của người trẻ cũng như nơi sự điềm đạm của người trưởng thành; nơi những trang phục lễ hội cũng như nơi quần áo và dụng cụ lao động. Chúng ta phải lắng nghe những câu chuyện tình yêu độc nhất mà mỗi thực tại ấy kể cho chúng ta, nhận ra nơi đó những khe nhỏ mở ra bầu trời.

Chính tình yêu là trang sức đẹp nhất của con người: tình yêu làm biến hình, biến đổi, làm cho cao quý và nâng con người lên; tình yêu làm cho con người trở nên nhẹ nhàng, tự do, gần gũi với Thiên Chúa, ngay giữa những thăng trầm của cuộc sống.

Thánh Phaolô VI, khi suy niệm về mầu nhiệm Đức Trinh Nữ Hồn Xác Lên Trời, đã nói rằng để hiểu được ý nghĩa của mầu nhiệm này, “cần phải đưa những từ ngữ mà chúng ta sử dụng trong ngôn ngữ trần thế lên mức tuyệt đối và cao nhất […], để trong những chiều kích nhỏ bé, chúng ta có thể hình dung về cõi vĩnh hằng” (Bài giảng, ngày 15 tháng 8 năm 1969).

Và khi nói về cuộc gặp gỡ giữa vô hạn và hữu hạn nơi Mẹ Thiên Chúa, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã viết: “Đức Maria là người biết biến một hang súc vật thành ngôi nhà của Chúa Giêsu, chỉ với vài tấm khăn nghèo nàn và một núi dịu dàng” (Tông huấn Evangelii gaudium, 286).

Phép lạ mà Đức Maria, người thiếu nữ thành Nazareth, đã sống trong trái tim tinh tuyền của mình, và đã đưa Mẹ đến vinh quang Nước Trời, chính là sự gặp gỡ của những thực tại tưởng như đối nghịch, như chính Mẹ làm chứng qua những lời được linh hứng của bài ca Magnificat mà chúng ta vừa nghe trong Tin Mừng (x. Lc 1,46-55). Trong bài ca ấy, qua những lời diễn tả khiêm nhường của đức tin, Mẹ trên trời nói với chúng ta cách đơn sơ về những mầu nhiệm cao cả: về Thiên Chúa, nơi Mẹ, đã làm người để cứu độ con người; về Đấng Vĩnh Cửu, nơi Mẹ, đã tỏ mình trong thời gian, để mở lại cho chúng ta con đường dẫn đến vĩnh cửu; đồng thời, qua thân phận “nữ tỳ hèn mọn” của Mẹ, Mẹ cho thấy “chiều kích nhỏ bé” nhưng, như Thánh Phaolô VI đã nói, nơi đó cả chúng ta cũng có thể gặp được Chúa.

Vì thế, chúng ta không cần phải tìm kiếm ở đâu xa sự cao cả của Mầu nhiệm mà hôm nay chúng ta cử hành. Chúng ta có thể gặp thấy mầu nhiệm ấy ở nơi có tình bác ái đích thực: trong ánh mắt của một người cha và người mẹ trở về nhà sau một ngày làm việc, mệt mỏi nhưng hạnh phúc vì được ở bên con cái; trên khuôn mặt của những người ông, người bà, dù mang những đau yếu của tuổi già, vẫn bừng lên nguồn sinh lực bất ngờ khi chăm sóc các cháu; hay nơi nỗ lực của những người trẻ cố gắng lớn lên trong sạch và ngay thẳng, sẵn sàng đi ngược dòng trước “những điều mọi người đều làm”; và cuối cùng, trong công việc của biết bao người nam nữ mỗi ngày, với đức tin và sự tận tụy, góp phần mang một chút Trời xuống đất và đưa đất hướng về Trời.

Anh chị em rất thân mến, khuôn mặt tuyệt đẹp của Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời là duy nhất, vượt trên mọi khả năng diễn tả, nhưng đồng thời cũng rất quen thuộc đối với chúng ta: đó là khuôn mặt của những người đang ở bên cạnh chúng ta, ngay cả lúc này, của những anh chị em cùng chia sẻ với chúng ta, trong đức tin, việc hiến dâng cuộc sống hằng ngày. Vì thế, nơi người Phụ Nữ trong sách Khải Huyền, cộng đoàn tín hữu nhìn thấy chính mình, và Công đồng Vatican II mô tả Đức Maria là “hình ảnh và khởi đầu của Giáo hội, […] dấu chỉ của niềm hy vọng chắc chắn và của niềm an ủi” (Hiến chế tín lý Lumen gentium, 68).

Trong nhân tính thánh thiện của Mẹ, nhờ ân sủng Thiên Chúa, cũng có nhân tính của chúng ta, cũng có chính chúng ta, được mời gọi sống cùng một sự viên mãn của sự sống và cùng chia sẻ vinh quang của Mẹ.

Thánh Augustinô, khi nói về sự phục sinh của Chúa Kitô, đã mời gọi các Kitô hữu thời ngài lấy biến cố ấy làm kim chỉ nam và điểm quy chiếu cho cuộc đời. Ngài nói: “Đức Kitô đã sống lại để không bao giờ chết nữa […]. Hãy đổi hướng, hãy bước theo ánh sáng! Hãy bắt đầu đứng lên từ chính nơi Người đã phục sinh” (Enarratio in Psalmos 126, 7).

Chúng ta hãy biến lời mời gọi ấy thành lời mời gọi dành cho chính mình. Hãy bước theo ánh sáng của Đấng Phục Sinh, thay đổi hướng đi nếu cần. Đặc biệt hôm nay, chúng ta hãy làm điều đó khi chiêm ngắm Đức Maria, Đấng được Thiên Chúa đội triều thiên vinh quang cả hồn lẫn xác, và được Người ban cho chúng ta là người Mẹ, làm người hướng dẫn, bạn đồng hành và người bảo vệ trên con đường về Trời.

Bài viết liên quan

Ngày Thế giới Người Di cư và Tị nạn: Mỗi trẻ em di cư đều có phẩm giá vô hạn

Trong Sứ điệp nhân Ngày Thế giới Người Di cư và Tị nạn lần thứ...

UNICEF: Dịch tả lan rộng tại Tây và Trung Phi, hàng triệu trẻ em gặp nguy hiểm

UNICEF cảnh báo dịch tả đang lan nhanh tại Tây và Trung Phi, với các...

Đức Thánh Cha: Phụng vụ phải đào luyện toàn thể Dân Thiên Chúa

Trong sứ điệp gửi cuộc gặp về đào tạo phụng vụ diễn ra từ ngày...

Lao động trí thức trong thời đại AI: một góc nhìn xã hội học

Trí tuệ nhân tạo không chỉ đặt ra câu hỏi về tương lai việc làm,...

Đức Thánh Cha: Muốn xây dựng hòa bình, cần “giải giới” cho công nghệ và AI

Ngày 11/8, Bộ Phục vụ Phát triển Con người Toàn diện đã công bố chủ...