Magnifica Humanitas và sứ mạng truyền thông Công giáo trong thời đại trí tuệ nhân tạo

WHĐ (24/10/2026) – Trong Hội ngộ Mục vụ truyền thông năm 2026 do Ủy ban Truyền thông Xã hội trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam tổ chức, Đức Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Khảm đã có bài chia sẻ với chủ đề: “Magnifica Humanitas và sứ mạng truyền thông Công giáo trong thời đại trí tuệ nhân tạo”. Sau đây là video và nội dung chính bài chia sẻ của ngài. (Cập nhật lúc 20g40 ngày 26/10/2026)

Dẫn nhập

Thông điệp được chuẩn bị công phu với sự đóng góp của nhiều chuyên viên thần học cũng như công nghệ, vì thế nội dung rất phong phú, không thể khai triển hết chỉ trong hai giờ. Đồng thời, cử tọa ở đây là thành viên các Ban truyền thông, vì thế xin giới hạn bài nói chuyện ở hai điều: (1) Lược đồ thông điệp; (2) Giới thiệu một số chủ đề liên quan đến truyền thông. Vì chưa có bản dịch tiếng Việt chính thức của Hội đồng Giám mục nên xin gọi tên thông điệp trong tiếng La tinh.

PHẦN MỘT – LƯỢC ĐỒ TỔNG QUÁT THÔNG ĐIỆP MAGNIFICA HUMANITAS

Dẫn nhập: Hai hình ảnh trong Kinh thánh, hướng tới việc xây dựng công ích và phẩm giá con người.

Chương một: Tiếp cận Tin mừng cách trung thành và năng động

Hội thánh bước đi trong lịch sử nhân loại: Sự khôn ngoan của Lời Chúa đối thoại với các khoa học nhân văn; Học thuyết xã hội như sự phân định được chia sẻ.

Sự phát triển của Học thuyết xã hội từ Đức Lêô XIII đến nay: Những giai đoạn đầu tiên của Học thuyết xã hội; Những năm sau Vatican II; Huấn quyền gần đây; Giải thích lịch sử trong ánh sáng đức tin.

Chương hai: Những nền tảng và nguyên tắc của Học thuyết xã hội của Hội thánh.

Những nền tảng của Học thuyết xã hội: Con người là hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi; Bình đẳng về phẩm giá; Giá trị tối thượng của nhân quyền.

Những nguyên tắc của Học thuyết xã hội: Công ích; Mục đích phổ quát của tài nguyên thiên nhiên; Liên đới; Công bằng xã hội.

Chương ba: Kỹ thuật và sự thống trị: sự vĩ đại của nhân loại và những lời hứa của AI.

Mô hình kỹ thuật trị và quyền lực số.

Trí tuệ nhân tạo: Công cụ quý giá nhưng cần cảnh giác; Trách nhiệm, sự minh bạch và việc quản lý AI.

Điều không được phép bị đánh mất: transhumanism and post humanism; Giới hạn, Trái tim và sự vĩ đại của nhân vị.

Ân sủng và nhân văn Kitô giáo

Hai thành đô và hai tình yêu

Chương bốn: Bảo vệ nhân loại trong thời đại của biến đổi: Chân lý, Việc làm, Tự do

Chân lý hiểu như công ích: Chân lý và dân chủ; Truyền thông và trí tưởng tượng tập thể; Hướng đến một môi sinh truyền thông; Liên minh giáo dục trong thời đại AI; Vai trò trung tâm của các trường học.

Phẩm giá của việc làm trong thời đại số hóa: Giá trị của việc làm; Vấn đề thất nghiệp; Một nền kinh tế tôn trọng phẩm giá con người; Gia đình và người trẻ.

Bảo vệ tự do chống lại sự lệ thuộc và thương mại hóa: Những lệ thuộc và kiểm soát xã hội; Bẻ gẫy xiềng xích của những hình thức nô lệ mới.

Chương năm: Văn hóa quyền lực và văn minh tình yêu

Văn minh tình yêu trong thời đại số

Văn hóa quyền lực: Việc bình thường hóa chiến tranh; Sức mạnh không giới hạn; Vũ khí và AI; Khủng hoảng của chủ nghĩa đa nguyên.

Xây dựng nền văn minh tình yêu: Chúng ta có thể đóng góp phần mình; Đừng biến ngôn từ thành vũ khí; Xây dựng hòa bình qua sự công bằng; Vun đắp chủ trương duy thực lành mạnh; Đối thoại; Ngoại giao và đa nguyên; Cầu nguyện và hi vọng.

Kết luận: Lời thành xác phàm; Một thân thể trong Đức Kitô; Magnificat, bài ca hi vọng.

 

PHẦN HAI – GIỚI THIỆU MỘT SỐ CHỦ ĐỀ

I. Magnifica Humanitas và Học thuyết xã hội của Hội thánh Công giáo

1. Mối liên hệ giữa thông điệp Magnifica Humanitas và Học thuyết xã hội

Trong dịp gặp các hồng y ngay sau bầu cử, Đức Giáo hoàng cho biết ngài chọn Tông hiệu Lêô để nhớ đến Đức Lêô XIII, vị Giáo hoàng gắn liền với thông điệp Rerum Novarum (Tân Sự) (1891), mở đầu cho Học thuyết xã hội của Hội thánh Công giáo. Thông điệp Magnifica Humanitas được ban hành nhân kỷ niệm 135 năm Rerum Novarum. Đồng thời qua đó cũng cho thấy ngài quan tâm đến trí tuệ nhân tạo (AI) như cuộc cách mạng công nghệ mới.

Đối diện lời phê phán cho rằng Hội thánh không nên tiêu hao năng lực vào những vấn đề trần thế, Đức Lêô XIII đã trả lời cách khôn ngoan và thực tế rằng loan báo Tin mừng không thể không quan tâm đến đời sống thực tế của con người (số 3). Cũng vì thế Magnifica Humanitas là thông điệp tìm cách đáp ứng những thách đố mới trong thời đại trí tuệ nhân tạo.

Thông điệp dành hai chương I & II để nhắc lại lịch sử hình thành và những nội dung căn bản của Học thuyết xã hội, nỗ lực đem những giá trị Tin mừng vào đời sống và tổ chức xã hội. Như vậy, chúng ta cần đặt thông điệp trong một bối cảnh rộng lớn là Học thuyết xã hội, chứ không chỉ nhìn cách riêng lẻ. Cũng là lý do tại sao phải nói đến Học thuyết xã hội.

2. Học thuyết xã hội phát xuất từ sự gặp gỡ giữa chân lý vĩnh hằng và những vấn đề trong lịch sử nhân loại

Tại sao có Học thuyết xã hội? Thưa, để phục vụ nhân loại. Loan báo Tin mừng không thể không quan tâm đến đời sống thực tế của con người (Lêô XIII), trong đời sống đó, luôn có những vấn đề mới được đặt ra cho nhân loại (vd cách mạng kỹ nghệ đã tác động rất lớn trên đời sống kinh tế, xã hội cũng như trên mỗi gia đình, mỗi cá nhân) và Hội thánh phải quan tâm để chia sẻ, hướng dẫn. “Hội thánh bước đi cùng với nhân loại, nhìn nhận sự tự lập của các thực tại trần thế và sự phân biệt giữa cộng đoàn chính trị với cộng đoàn tôn giáo. Chính vì thế Hội thánh muốn phục vụ công ích” (số 18). “Được nuôi dưỡng bằng cuộc đối thoại phong phú giữa Tin mừng và tri thức nhân loại, Giáo hội từng bước phát triển Học thuyết xã hội” (số 24). “Học thuyết xã hội được sinh ra từ sự gặp gỡ giữa chân lý vĩnh hằng của Tin mừng và những vấn đề trong lịch sử” (27).

Thông điệp Magnifica Humanitas nhìn lại sự phát triển của Học thuyết xã hội từ Đức Lêô XIII đến nay. Ở những bước đầu, Thông điệp Rerum Novarum của Đức Lêô XIII được coi là cột mốc trong sự phát triển giáo huấn xã hội của Hội thánh (30); Quadragesimo Anno của Đức Piô XI làm nổi bật nguyên tắc bổ trợ (31); thời Đức Gioan XXIII có thông điệp Mater et Magistra, Pacem in Terris (32-33); Gaudium et Spes của Vatican II trình bày hình ảnh Giáo hội gần gũi với nhân loại, dấn thân vào thế giới và suy nghĩ về thực tại cụ thể trong những hoàn cảnh lịch sử hơn là những ý niệm trừu tượng” (34).

Sau Vatican II, Đức Phaolô VI và Populorum Progressio coi sự phát triển là tên gọi mới của hòa bình (35); Đức Gioan Phaolô II có nhiều thông điệp về xã hội như Laborem Exercens, Sollicitudo Rei Socialis, Centesimus Annus (38); Đức Bênêđictô XVI có Caritas in Veritate, coi bác ái gắn liền với sự thật là tâm điểm của Học thuyết xã hội (41).

Gần đây, Đức Phanxicô trong Evangelii Gaudium khẳng định giáo huấn Kitô giáo có một chiều kích xã hội và kêu gọi Giáo hội lắng nghe tiếng kêu của người nghèo, di dân và nạn nhân của những hình thức nô lệ mới (42). Ngài còn quan tâm đặc biệt đến môi sinh qua Laudato si.

3. Sau khi nhắc lại đôi nét lịch sử, Magnifica Humanitas trình bày những nguyên tắc của Học thuyết xã hội

– Công ích (số 59-64): công ích “là toàn bộ những điều kiện của đời sống xã hội cho phép các tập thể hay các phần tử riêng rẽ có thể đạt tới sự hoàn hảo của mình cách đầy đủ và dễ dàng hơn” (Gaudium et Spes, 26). Thiện ích chung thuộc về mọi người, và mọi người phải chung tay bảo vệ, giữ gìn.

– Mục đích phổ quát của tài nguyên thiên nhiên (số 65-67): (1) tài nguyên thiên nhiên được Thiên Chúa ban cho mọi người; (2) Giáo hội nhìn nhận quyền tư hữu nhưng quyền ấy phải phụ thuộc vào nguyên tắc phổ quát của của cải, và Đức Gioan Phaolô II coi đây là nguyên tắc đầu tiên của toàn bộ trật tự đạo đức xã hội (66).

– Bổ trợ (số 68-72): vai trò của cá nhân, gia đình, cộng đồng địa phương không nên bị thay thế bởi thẩm quyền cao hơn, vd Nhà nước. Nguyên tắc này thúc đẩy sự chia sẻ trách nhiệm của mọi người, và tránh được tình trạng độc quyền!

– Liên đới (số 73-76): mỗi người là thành phần của mạng lưới tương quan với những người khác, do đó liên đới với nhau. Nguyên tắc này liên kết chặt chẽ với nguyên tắc bổ trợ.

– Công bằng xã hội (số 77-81): công bằng xã hội được thể hiện qua khả năng tạo điều kiện cho mỗi người sống cuộc sống phù hợp với phẩm giá con người, không ai bị bỏ lại phía sau. Huấn quyền nhấn mạnh công bằng xã hội phải quan tâm trước hết đến người thấp kém, người nghèo trong xã hội. Công bằng xã hội giúp ta thấy những bất công không chỉ là do chọn lựa cá nhân nhưng còn do cơ cấu (khái niệm tội cơ cấu).

4. Vài gợi ý suy nghĩ

– Mời gọi Dân Chúa xét mình. Thông điệp Magnifica Humanitas ôn lại Học thuyết xã hội không chỉ để ngỏ lời với xã hội nhưng còn là dịp để Giáo hội xét mình và cố gắng thực hiện trong đời sống Giáo hội: Công ích, bổ trợ, liên đới, công bằng là những nguyên tắc căn bản, chúng ta đã thể hiện ra sao trong đời sống Giáo hội? Cần phải làm gì để thể hiện tốt hơn?

– Áp dụng những nguyên tắc của Học thuyết xã hội vào việc sử dụng trí tuệ nhân tạo. Sau khi nhắc lại những nguyên tắc của Học thuyết xã hội, Thông điệp dựa vào những nguyên tắc trên để đưa ra những hướng dẫn trong việc sử dụng trí tuệ nhân tạo, ví dụ:

Bổ trợ (số 71): trong cuộc cách mạng kỹ thuật số, vị thế cao nhất không phải là Nhà nước nhưng là những nhân tố (đại gia) công nghệ. Họ độc quyền về chuyên môn, dữ liệu, quyền quyết định… Nguyên tắc bổ trợ mời gọi họ phải hướng đến công ích và tạo điều kiện cho mọi người tham gia.

Liên đới (74): mạng lưới kỹ thuật số rõ ràng nối kết (connect) mọi người cách nhanh chóng và dễ dàng, nhưng liệu đã có sự liên đới thực sự hay chỉ là nối kết thông tin? Tôi nhớ đến hình ảnh so sánh một bên là nhà nghiên cứu về tình trạng nghèo đói trên thế giới đưa ra con số thống kê chính xác, và hình ảnh Mẹ Têrêsa Calcutta không biết đến thống kê nhưng đang phục vụ những người nghèo trước mắt bà.

Công bằng xã hội (84): trong thời đại kỹ thuật số, cần tạo điều kiện cho mọi người đều có thể có những cơ hội thuận lợi như nhau, bảo vệ người trẻ và người yếu thế, chống lại sự thù ghét và thông tin sai lệch…

Đây cũng là lý do khi đọc thông điệp Magnifica Humanitas, chúng ta cần quan tâm đến chủ đề về Học thuyết xã hội. Nhiều người gọi đây là thông điệp về Trí tuệ nhân tạo, điều đó không sai nhưng thực ra thông điệp đặt trí tuệ nhân tạo trong bối cảnh lịch sử nhân loại, và Hội thánh bước đi với nhân loại trong dòng lịch sử ấy, với những âu lo và hi vọng, và tìm cách giải quyết, định hướng.

Cũng vì thế, là người phụ trách Học viện Công giáo Việt Nam, tôi mong ước có ngành học về Học thuyết xã hội tại Học viện để các tín hữu được hiểu biết hơn về Học thuyết này.

II. Magnifica Humanitas và Nhân học Kitô

1. Nền tảng của Học thuyết xã hội là Nhân học Kitô giáo

Chúng ta đã bàn đến Những nguyên tắc của Học thuyết xã hội, nhưng trước khi đưa ra những nguyên tắc này, thông điệp Magnifica Humanitas đã trình bày những nền tảng và đó chính là Nhân học Kitô giáo. Đây là hướng đi quen thuộc của Hội thánh.

Thử nhìn lại Gaudium et Spes là Hiến chế mục vụ duy nhất của Vatican II, bên cạnh các Hiến chế tín lý về Mặc Khải, Hội thánh, và Hiến chế về Phụng Vụ. Gaudium et Spes đã khai triển ra sao? Khởi đầu là đặt vấn nạn về con người trong thời đại ngày nay: “Đối diện với cuộc tiến hóa hiện nay của thế giới, càng ngày càng có nhiều người nêu lên câu hỏi hoặc nhận thức lại cách sâu sắc mới mẻ về những vấn đề vô cùng căn bản: Con người là gì? Đâu là ý nghĩa của đau khổ, sự dữ, cái chết? Sao chúng vẫn tồn tại mặc dù đã có bao nhiêu tiến bộ? Những chiến thắng đạt được với một giá đắt như thế có ích gì không?” (10)

Sau đó Gaudium et Spes trình bày suy tư Kitô giáo về con người: Con người theo hình ảnh Thiên Chúa (12); Tội lỗi (13); Yếu tố cấu thành con người (14); Phẩm giá của trí tuệ, chân lý và khôn ngoan (15); Phẩm giá của lương tâm (16); Ý nghĩa cao cả của tự do (17); Mầu nhiệm sự chết (18). Đây chính là những nền tảng của Nhân học Kitô giáo, và trên nền tảng đó, Gaudium et Spes mới đi vào những vấn đề lớn và cụ thể: Cộng đồng nhân loại; Hôn nhân và gia đình; Phát triển văn hóa; Cộng đồng chính trị; Ngăn ngừa chiến tranh; Cộng đồng quốc tế.

2. Magnifica Humanitas cũng nằm trong hướng đi này

Phụ đề của Thông điệp nhấn mạnh Nhân học: Về việc bảo vệ nhân vị trong thời đại trí tuệ nhân tạo (On safeguarding the Human Person in the Time of Artificial Intelligence).

Những nền tảng chính yếu trong Nhân học Kitô giáo:

– Con người là hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi: Nguồn mạch của Học thuyết xã hội là Thiên Chúa Tình Yêu, và tình yêu ấy được diễn tả cụ thể nơi Chúa Giêsu, Ngôi Lời nhập thể. Con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa Ba Ngôi (x. St 1,26-27): được tạo dựng để sống hiệp thông với Thiên Chúa, với tha nhân, với tạo thành (47-49). Phẩm giá không chỉ liên quan đến linh hồn nhưng đến con người toàn diện, bao gồm xác và hồn hợp nhất, không thể phân chia (Dignitas Infinita 18).

– Phẩm giá bình đẳng của mọi người: Phẩm giá con người “không tùy thuộc vào khả năng, của cải hoặc vị trí của người đó, cũng không tùy thuộc những chọn lựa tốt hay xấu của họ; đó là quà tặng đi trước và vượt trên mỗi người, được Thiên Chúa ban cho như sự thể hiện tình yêu của Ngài” (50). Phẩm giá con người có tính nội tại, nghĩa là gắn với chính con người chứ không lệ thuộc bên ngoài: nhân quyền không phải là cái được thêm vào cho con người, nhưng là sự thể hiện ra bên ngoài phẩm giá nội tại của con người, và cộng đồng quốc tế được mời gọi bảo vệ và thăng tiến quyền ấy (54). Phẩm giá ấy là vô hạn (infinita dignitas), bất khả nhượng, tồn tại trong mọi hoàn cảnh.

– Giá trị tối thượng của nhân quyền: “Trong văn hóa hiện đại, tham chiếu gần nhất đến nguyên tắc tôn trọng phẩm giá không thể tước bỏ của con người chính là Tuyên ngôn quốc tế Nhân quyền. Đức Gioan Phaolô II đã gọi đây là cột mốc trên con đường dài và khó khăn của nhân loại, và là một trong những biểu hiện cao nhất của lương tâm nhân loại” (Dignitas Infinita 23).

Theo quan điểm Kitô giáo, nhân quyền là phổ quát, bất khả xâm phạm vì nội tại nơi con người, bất khả nhượng. Căn bản là quyền sống, từ khi sinh ra đến khi chết tự nhiên. Đây là nền tảng cho mọi quyền khác, vì không có quyền này thì không thể thực hiện bất cứ quyền nào khác (55). Khi quyền căn bản này bị khước từ, như trong trường hợp phá thai, an tử, giết người vô tội, thì chúng ta đối diện với những chọn lựa mà Hội thánh cho là sai lầm trầm trọng (55).

3. Việc sử dụng trí tuệ nhân tạo có thực sự thăng tiến phẩm giá con người không?

“Cần xác định xem việc sử dụng trí tuệ nhân tạo có thực sự thăng tiến phẩm giá con người, ơn gọi làm người và thiện ích chung hay không”. Văn kiện Antiqua et Nova nêu câu hỏi trên và cũng đưa ra một số dấu hiệu của sự thăng tiến phẩm giá con người để chúng ta có thể dựa vào mà đánh giá (x. số 109, 110).

– Chúng ta có trở nên tốt hơn không, vì được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa? Trí tuệ nhân tạo có làm cho chúng ta là người hơn không hay nó khiến chúng ta biến nó thành thần thánh, và loại trừ Thiên Chúa đích thực?

– Chúng ta có trưởng thành hơn về tinh thần không vì không chỉ có thể xác mà còn có linh hồn. Trí tuệ nhân tạo có làm cho chúng ta là người hơn không hay chỉ là robot?

– Chúng ta có trách nhiệm hơn với tha nhân, nhất là người nghèo không, vì con người là hữu thể tương quan. Trí tuệ nhân tạo có làm cho chúng ta là người hơn không hay làm cho chúng ta đánh mất sự hiệp thông và tình liên đới với những con người thật, vì chỉ đắm mình trong thế giới ảo?

 

III. Magnifica Humanitas và Trí tuệ nhân tạo

1. Trí tuệ con người và trí tuệ nhân tạo

Cách đây không lâu, Tổng thống Mỹ và các đại gia công nghệ cho biết họ muốn đổi tên AI (Artificial Intelligence – trí tuệ nhân tạo) thành SI (Super Intelligence – siêu trí tuệ). Thông tin này khiến tôi nhớ lại nhận xét của Đức Phanxicô cho rằng chính việc sử dụng từ trí tuệ để nói về “trí tuệ nhân tạo” có thể gây hiểu lầm, và có nguy cơ bỏ qua điều quý giá nhất nơi con người. Trí tuệ nhân tạo không nên được xem là một dạng trí tuệ của con người, nhưng chỉ là sản phẩm của trí tuệ con người.

Ở đây thiết nghĩ nên đọc lại phân tích sâu sắc về từ “Trí tuệ” (Intelligence) trong văn kiện Antiqua et Nova của Bộ Giáo lý đức tin & Bộ Văn hóa Giáo dục. Theo đó, trong truyền thống cổ điển, trí tuệ thường được hiểu qua hai khái niệm bổ túc cho nhau là lý trí (ratio) và trí năng (intellectus). Theo thánh Tôma, đây là hai cách thức vận hành của cùng một trí tuệ: intellectus chỉ việc thấu hiểu nội tại chân lý, còn ratio xuất phát từ tiến trình tìm hiểu và lý luận (Antiqua et Nova, số 14). Trí tuệ con người mang những tính chất đặc biệt:

Thứ nhất là tính hiện thân (embodiment) hoặc tính xác thể (gắn với thân xác – robot không có): con người là hồn và xác, đau răng không chỉ ảnh hưởng trên thân xác nhưng cả trên hoạt động tinh thần như suy nghĩ, cầu nguyện. Người ta ghi nhận thánh Gioan Thánh Giá ụa mửa khi xuất thần, tức là trong hoạt động cao nhất của tinh thần là xuất thần, vẫn có một tác động thể lý.

Kế đến là tính tương quan: “người nam ở một mình không tốt” không chỉ có nghĩa trong tương quan nam-nữ nhưng còn trong tương quan xã hội, con người là hữu thể mang tính xã hội. Trí tuệ nhân tạo chỉ kết nối (connect) chứ không nhất thiết tạo sự hiệp thông, kiến tạo tương quan liên vị.

Sau nữa là tương quan với chân lý (khao khát chân lý), và phục vụ cho thế giới (Trí tuệ nhân tạo không có lương tâm, phân định tốt xấu, không chịu trách nhiệm luân lý).

2. Magnifica Humanitas và Trí tuệ nhân tạo

Magnifica Humanitas không đi vào phân tích từ ngữ sâu như Antiqua et Nova nhưng cung cấp một tầm nhìn tổng quát

Trước hết, Thông điệp nhấn mạnh rằng: “Chúng ta phải tránh quan niệm sai lầm khi coi trí tuệ nhân tạo và trí tuệ của con người như nhau. Những hệ thống này chỉ đơn thuần bắt chước một số phận vụ của trí tuệ con người. Trong việc đó, nó thường vượt trội trí tuệ con người về tốc độ, khả năng ghi nhớ và cung cấp những lợi ích cụ thể trong nhiều lãnh vực. Tuy nhiên khả năng này hoàn toàn gắn với việc xử lý dữ liệu. Cái gọi là trí tuệ nhân tạo không có những trải nghiệm, không có một thân xác, không cảm thấy vui hay buồn, không trưởng thành qua các mối tương quan và không biết từ bên trong thế nào là tình yêu, công việc, tình bạn hoặc trách nhiệm. Nó cũng không có lương tâm, vì nó không xác định tốt xấu, không nắm bắt ý nghĩa của từng hoàn cảnh, không chịu trách nhiệm về hậu quả gây ra. Chúng có thể bắt chước ngôn ngữ, những kỹ năng ứng xử và phân tích, kể cả mô phỏng sự đồng cảm và hiểu biết, nhưng chúng không hiểu điều chúng làm ra vì chúng thiếu viễn ảnh tình cảm, tương quan và thiêng liêng, qua đó con người lớn lên trong sự minh triết.

Kể cả khi những dụng cụ này được mô tả là có khả năng “học”, cách học của nó cũng khác với con người. Đó không phải là kinh nghiệm của những người để cho mình được định hình trong cuộc sống và lớn lên theo thời gian qua những chọn lựa, lỗi lầm, tha thứ và trung tín. Đúng hơn, đó là sự thích nghi về thống kê dựa trên những dữ liệu và feedback, có thể rất hiệu quả nhưng không bao hàm sự phát triển nội tâm” (số 99).

Có thể tóm tắt: Trí tuệ nhân tạo (1) không có một thân xác, không cảm thấy vui hay buồn, không trưởng thành qua các mối tương quan, và không biết từ bên trong thế nào là tình yêu, tình bạn; (2) không có lương tâm, không xác định tốt xấu, không chịu trách nhiệm về hậu quả gây ra; (3) cách học của nó chỉ là sự thích nghi về thống kê dựa trên những dữ liệu và feedback, có thể rất hiệu quả nhưng không bao hàm sự phát triển nội tâm.

Kế đến, Thông điệp nói đến những điều tích cực và tiêu cực trong việc sử dụng trí tuệ nhân tạo (số 100).

Xin kể lại chứng từ của Vic Gundotra, nguyên Phó Giám đốc Google. Ông sinh ra trong gia đình theo “Chứng nhân Giêhôva” và rất nhiệt thành. Nhưng khi trưởng thành, ông đặt vấn đề về giáo phái này, cuối cùng rời bỏ giáo phái, trở thành vô thần. Ở thời điểm sa sút nhất của đời sống, ông bắt đầu tìm hiểu về Công giáo qua một người bạn, và nhờ “trí tuệ nhân tạo” ông đọc các văn bản của các Giáo phụ. Ông nói: “Trí tuệ nhân tạo đã đọc tất cả các Giáo phụ, đã đọc hết những gì Hội thánh viết từ 2000 năm nay”. Nhờ đó ông tìm hiểu và đào sâu đức tin, cuối cùng ông xin gia nhập Hội thánh Công giáo.

Theo ông, trí tuệ nhân tạo là phát minh lớn nhất trong đời ông, thậm chí giống như phát minh ra lửa và bánh xe; nhưng trí tuệ nhân tạo cũng là con dao hai lưỡi, có những người coi nó là Thiên Chúa của họ, nhưng thực ra nó chỉ là dụng cụ thôi, không phải Chúa” (x. Bản tin EWTN tháng 2/2026). Trong một dịp khác, ông kể khi đặt câu hỏi cho trí tuệ nhân tạo “Tại sao tôi sống?”, nó không có câu trả lời nhưng nó gợi ý những câu trả lời từ một nguồn khác, trong đó có Công giáo.

Chứng từ trên của một chuyên viên công nghệ cho thấy trí tuệ nhân tạo vừa có những ích lợi vừa hàm chứa những nguy hiểm.

(1) Không ai có thể phủ nhận những ích lợi của trí tuệ nhân tạo trong việc nghiên cứu, chữa bệnh, liên kết, giáo dục, bảo vệ ngôi nhà chung.

(2) Đồng thời cũng có không ít những tác động tiêu cực. Theo Magnifica Humanitas khi sử dụng trí tuệ nhân tạo, chúng ta nên lưu ý ba điều:

Thứ nhất là sự dễ dàng, nhanh nhẹn thu thập thông tin, nhờ đó công việc thoải mái hơn. Tuy nhiên nếu cậy dựa vào trí tuệ nhân tạo quá nhiều, chỉ tìm những câu trả lời có sẵn, thói quen đó sẽ làm suy yếu sáng tạo và phán đoán cá nhân.

Thứ hai là ấn tượng về tính khách quan của những câu trả lời hoặc gợi ý của trí tuệ nhân tạo khiến chúng ta quên rằng những gợi ý đó chỉ phản ánh quan điểm của người thiết kế và huấn luyện nó, với những điểm mạnh và điểm yếu của họ. Trong biết bao dữ liệu của thế giới, họ chỉ chọn những dữ liệu theo quan điểm của họ.

Mô phỏng sự giao tiếp của con người (lời khuyên, đồng cảm, tình bạn) có thể hữu ích đôi lúc, nhưng nếu không để ý, sẽ bị ảo tưởng là mình đang có mối quan hệ cá nhân với con người thật, hơn nữa có thể đi đến chỗ đánh mất dần những mối quan hệ thực sự giữa người với người.

3. Đề nghị một thái độ

– Không thể tách tiến bộ công nghệ khỏi tiến bộ đạo đức: “Những tiến bộ khoa học và kỹ thuật cần phải song hành với sự phát triển xã hội và đạo đức; nếu không, nó sẽ chống lại nhân loại” (117).

– Hãy sử dụng công nghệ cách khôn ngoan chứ đừng để công nghệ sử dụng chúng ta. Trong thời đại trí tuệ nhân tạo, Đức Thánh cha Lêô XIV kêu gọi: “Đừng để thuật toán viết câu chuyện đời bạn! Chính các bạn hãy là tác giả; hãy sử dụng công nghệ cách khôn ngoan chứ đừng để công nghệ sử dụng bạn. Trí tuệ nhân tạo cũng là sự mới mẻ vĩ đại trong thời đại chúng ta. Tuy nhiên chỉ “thông minh” trong thế giới ảo mà thôi thì chưa đủ; chúng ta còn phải đối xử với nhau cách nhân văn, dưỡng nuôi sự thông minh về tình cảm, thiêng liêng, xã hội, và môi sinh”.

– Hãy là ngôn sứ của thế giới số: “Hãy học cách nhân hóa thế giới số, xây dựng nó trở thành không gian của tính sáng tạo và tình huynh đệ, không phải như cái chuồng nhốt bạn trong đó, không phải như nghiện ngập hay trốn tránh thực tại. Thay vì là khách du lịch trên web, hãy là ngôn sứ của thế giới số!”

 

IV. Magnifica Humanitas và Mạng xã hội

1. Những nguy hiểm của mạng xã hội & trí tuệ nhân tạo

Trong năm 2026, nhiều quốc gia đã đưa ra những quy định nghiêm ngặt về việc trẻ vị thành niên sử dụng mạng xã hội. Nước Úc đi đầu, sau đó nhiều quốc gia tiếp nối, hoặc cấm trẻ dưới 16 tuổi không được dùng mạng xã hội, hoặc hạn chế việc dùng điện thoại thông minh trong lớp học. Lý do là vì họ thấy rõ những nguy hiểm của mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo đối với trẻ vị thành niên.

Magnifica Humanitas cũng nêu ra những nguy hiểm của mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo. Về truyền thông nói chung, Thông điệp nhận định rằng các nền tảng kỹ thuật số và trí tuệ nhân tạo đã tạo nên những thay đổi sâu xa trong truyền thông. Những dụng cụ này có thể thúc đẩy đối thoại và tham gia, nhưng cũng có thể bị sử dụng để gia tăng gian dối, che mờ sự thật. Sự sai lệch thông tin này đã có từ trước nhưng trí tuệ nhân tạo và các nền tảng làm cho nó tác động lớn hơn. Văn kiện Antiqua et Nova còn nói đến một vấn đề đáng lo ngại hơn, đó là việc cố ý lạm dụng trí tuệ nhân tạo để thao túng: lan truyền nội dung sai sự thật nhằm mục đích lừa dối hoặc gây hại, chẳng hạn deepfake – tạo ra những hình ảnh hoặc đoạn phim mô tả sai sự thật về một người nào đó, được chỉnh sửa hoặc bằng thuật toán (số 87)… Mối nguy này trở thành đặc biệt nghiêm trọng khi chúng được sử dụng để bôi nhọ hoặc tấn công người khác. Dù hình ảnh hay video đó có thể là nhân tạo nhưng tổn hại mà chúng gây ra là thật, để lại những vết sẹo sâu trong tâm hồn người bị hại, và những thương tích thật nơi phẩm giá con người của họ (Ibid).

Cách riêng về việc trẻ em sử dụng mạng xã hội, những nghiên cứu cho thấy việc trẻ em sử dụng các thiết bị số quá sớm và không được giám sát dẫn đến những hậu quả tiêu cực lên giấc ngủ, sự chú ý, kiểm soát cảm xúc và quan hệ, đôi khi là những hậu quả bi thảm… Những hiện tượng trực tuyến như ve vãn, đe dọa và khai thác tình dục trẻ nhỏ không phải là chuyện hiếm. Tệ hơn nữa là người ta sử dụng thuật toán và trí tuệ nhân tạo để thao túng hình ảnh và video (Magnifica, số 141).

2. Đề nghị một thái độ đúng đắn với mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo

– Thúc đẩy một môi sinh truyền thông lành mạnh: “Nhiệm vụ đầu tiên của chúng ta không phải là thần thánh hóa hoặc ma quỷ hóa những dụng cụ kỹ thuật, nhưng là sử dụng chúng theo nguyên tắc căn bản này: sự thật, chân lý là thiện hảo chung chứ không phải là của riêng của những người nắm quyền lực và có ảnh hưởng. Do đó chúng ta phải thúc đẩy một môi sinh truyền thông” (số 137).

– Nền tảng là chân lý phổ quát và không tương nhượng: “Có chân lý phổ quát về sự thiện và lý trí có thể nhận biết, khi ý tưởng này bị mất đi thì ý niệm về lương tâm cũng thay đổi” (Đức Gioan Phaolô II); “Nếu xã hội muốn có một tương lai, nó phải tôn trọng sự thật về phẩm giá con người và quy phục sự thật đó. Giết người là sai, điều đó không chỉ đơn giản là vì xã hội không chấp nhận và ra luật để trừng trị, nhưng là vì xác tín sâu xa hơn. Đây là chân lý không thể thương lượng” (Đức Phanxicô, số 133). “Trí tuệ nhân tạo có thể trở thành một công cụ hỗ trợ phẩm giá con người nếu nó giúp con người hiểu được các khái niệm phức tạp hoặc hướng họ đến những nguồn tài liệu đáng tin cậy để hỗ trợ hành trình kiếm chân lý của họ” (Antiqua et Nova, số 85-87).

3. Vai trò của mọi thành phần

Với các bậc cha mẹ: Cần cảnh giác về việc con cái sử dụng các thiết bị số. Theo nhận định của một số chuyên gia, vấn đề không chỉ là mạng xã hội nhưng là chính công nghệ, nếu trao vào tay trẻ sớm quá, sẽ không tốt. Cũng như một người nghiện luôn muốn tăng dose: từ marijuana đến heroin, cocaine, ma túy đá… tương tự như thế khi trẻ cầm điện thoại trong tay quá sớm, các em dễ bị cuốn hút và càng ngày càng lệ thuộc hơn. Magnifica Humanitas cũng rất quan tâm đến điều này khi nhắn nhủ: Có một thiết bị di động khi còn quá nhỏ và sử dụng mà không có sự giám sát của người lớn, thì điều đó chỉ làm gia tăng sự dễ tổn thương cho người trẻ, gia tăng nghiện ngập, và dẫn các em đến chỗ cô lập, bắt nạt trên mạng, cũng như bị ép chia sẻ những hình ảnh thân mật và thông tin nhạy cảm (x. số 141).

Với các nhà giáo dục: Giáo dục không chỉ là truyền đạt các sự kiện và kỹ năng trí tuệ; đúng hơn, mục tiêu của giáo dục là góp phần vào sự đào tạo toàn diện con người trong nhiều khía cạnh khác nhau (tri thức, văn hóa, thiêng liêng). Trung tâm của công trình giáo dục toàn diện con người chính là mối tương quan thiết yếu giữa giáo viên và học sinh. Giáo viên không chỉ truyền đạt kiến thức nhưng còn làm gương về những phẩm chất nhân bản cốt yếu và khơi dậy niềm vui khám phá. Vì thế vai trò của các nhà giáo rất quan trọng (x. 144-146).

Một trong những nguy cơ lớn ngày nay là dòng chảy không ngừng của thông tin đang thay thế cho việc nghiên cứu, suy tư và phân định. Kiến thức bị phân mảnh, không có cái nhìn toàn diện, không nắm bắt thực tại trong cái toàn thể, không đặt ra những câu hỏi sâu xa về ý nghĩa đời sống, không phát huy khả năng suy tư. Việc sử dụng AI cách tràn lan trong giáo dục có thể dẫn đến việc học sinh ngày càng lệ thuộc vào công nghệ, làm suy giảm khả năng thực hiện một số kỹ năng cách độc lập, và càng lệ thuộc màn hình hơn (x. Antiqua et Nova, 81).

Về xã hội-chính trị: Magnifica Humanitas kêu gọi các chính quyền cần có những chính sách công với tầm nhìn xa để chống lại những lợi nhuận tức thời của các nền tảng, tập trung trong tay một số người. Ví dụ các nhà làm luật cần giới hạn tuổi sử dụng mạng xã hội, yêu cầu các nhà cung cấp phải chịu trách nhiệm và phải đưa ra những quy định chống lại việc khai thác tình dục trên mạng (142).

Với các tập đoàn công nghệ: trong thế giới kỹ thuật số, quyền lực của những tập đoàn công nghệ siêu quốc gia là rất lớn. Nó không chỉ thông tin nhưng còn định hình cả văn hóa. Vì thế, “Tất cả những ai tham gia vào việc sản xuất và sử dụng các hệ thống trí tuệ nhân tạo cần cam kết đảm bảo tính trung thực và chính xác của thông tin được xử lý bởi những hệ thống này và được phổ biến đến công chúng” (Antiqua et Nova, 86).

 

Kết luận

1. Hai hình ảnh Kinh thánh trong Magnifica Humanitas: Tháp Babel và Xây lại tường thành Giêrusalem

Tháp Babel (St 11,1-9) là hình ảnh những dự án muốn loại trừ Thiên Chúa vì kiêu ngạo, muốn tìm kiếm sự đồng nhất và loại trừ tính đa dạng. Kết quả không phải là sự hiệp nhất nhưng là tản mác.

Ngược lại, việc xây dựng lại tường thành Giêrusalem (Nêhêmia 2-6) là hình ảnh của hiệp thông và hài hòa. Nêhêmia xin vua Ba Tư cho về Giêrusalem. Ông quan sát cảnh điêu tàn, không áp đặt giải pháp. Ông quy tụ các gia đình, phân chia công việc cho mỗi nhà. Câu chuyện đề cao sự chia sẻ trách nhiệm của mọi người. Giêrusalem khám phá lại ngôn ngữ chung, không phải ngôn ngữ của sự đồng nhất nhưng là của hiệp thông, sự hài hòa (số 8).

2. Thái độ đúng đắn đối với cách mạng kỹ thuật số: xây dựng tường thành Giêrusalem thay vì xây tháp Babel

Tiến bộ công nghệ ngày nay mang lại nhiều ích lợi cho con người: chữa bệnh, liên kết, giáo dục, bảo vệ ngôi nhà chung… nhưng cũng có thể tạo ra những hình thức bất công mới: loại trừ, chia rẽ… Vấn đề không phải là hoan hô hay đả phá công nghệ nhưng là xây tháp Babel hay xây tường thành Giêrusalem (số 9). Vì vậy phải tránh “hội chứng Babel” là chỉ nhắm lợi nhuận mà bỏ quên người nghèo, loại trừ Thiên Chúa, biến con người thành phương tiện, chủ trương chỉ một ngôn ngữ là ngôn ngữ số (digital) có thể dịch hết mọi thứ. Thay vào đó phải chọn đường lối của Nêhêmia, là cùng làm việc hướng đến ích chung trong tinh thần hiệp hành (số 10).

Vì thế Magnifica Humanitas kêu gọi sống tương quan mật thiết với Thiên Chúa (11), quan tâm đến công ích, không gây ra khoảng cách xa vời giữa giàu và nghèo (12), cùng chia sẻ trách nhiệm, mỗi người một việc trong khả năng của mình (13), lấy ngôn ngữ Phúc Âm là ngôn ngữ chung (14). Như thế, các môn đệ Chúa Giêsu sẽ trở thành ngôn sứ trong thế giới số, những con người thấm nhuần Lời Chúa, và loan báo Lời trên thế giới kỹ thuật số.

GM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm

Bài viết liên quan

Hãy đi đến nơi không ai muốn đến

Có những cánh cửa không ai muốn bước qua, nhưng phía sau đó vẫn có...

Người môn đệ truyền thông

WHĐ (14/9/2026) – Khởi đi từ lời của Gioan Tẩy Giả: “Người phải nổi bật...

Triết sinh Học viện: Niềm vui ngày gặp gỡ, đồng hành và gửi trao yêu thương tại Giáo xứ Lương Mai

Trong tinh thần đào luyện bản thân và chuẩn bị cho sứ mạng mục vụ,...

Một vầng trăng- một trời hy vọng

Hoà chung trong niềm vui của Tết Trung Thu, Gia đình Sinh viên Công giáo...

Gia đình Sinh Viên Công Giáo tại Huế khai giảng lớp tiếng Anh miễn phí

Lúc 19 giờ 30 tối qua, Gia đình Sinh viên Công giáo tại Huế đã...