Đức Giám mục Eugène Marie Joseph Allys, mục tử số một của Giáo phận Huế

Đức Giám Mục EUGÈNE MARIE JOSEPH ALLYS sinh ngày 12/02/1852 tại giáo xứ Paimpont, Giáo phận Rennes nước Pháp, trong một gia đình nghèo khổ nhưng đạo đức. Trong 8 người con của gia đình này, có 2 linh mục và một nữ tu.

Cậu Eugène bắt đầu học tại nhà xứ Paimpont, sau đó được gửi vào Tiểu chủng viện Saint-Méen, rồi Đại chủng viện Rennes. Sau thời gian ngắn lưu trú tại đây, thầy Eugène gia nhập Chủng viện Hội Thừa sai Hải ngoại Paris (MEP) với ý nguyện đi phương xa truyền giáo.

Thụ phong linh mục ngày 10/10/1875, nhưng chỉ hơn hai tháng sau (16/12), Cha Allys đã được sai sang châu Á, đến nước Việt, tới Miền Truyền giáo Bắc Đàng Trong (tên gọi Giáo phận Huế thời bấy giờ). Vị Đại diện Tông tòa (tức Giám mục) lúc ấy là Đức Cha Joseph Sohier (Bình) trao cho vị thừa sai trẻ nhiệm sở nhỏ bé là Viện Dục anh Kim Long để lo các trẻ mồ côi, nhưng trước tiên và chủ yếu là học tiếng Việt. Vị chủ chăn Giáo phận đã nhanh chóng nhận ra các đức tính trí tuệ lẫn tâm hồn của linh mục trẻ này, đánh giá về ngài cao và hy vọng vào ngài nhiều, còn tiên đoán rằng ngài sẽ trở thành Bề trên của Miền Truyền giáo.

Trong thời kỳ này, Việt Nam hưởng được yên bình tương đối, nhờ hoà ước Giáp Tuất 1874 giữa triều đình Huế (nhà Nguyễn) và nước Pháp. Hòa ước chấp nhận cho thần dân được tự do theo đạo và các thừa sai được tự do truyền đạo.

Sau khi Đức Cha Sohier qua đời ngày 03/9/1876, Đức Cha Martin-Jean Pontvianne (Phong) lên thay. Ngài đặt Cha Allys làm bề trên Đại chủng viện Thợ Đúc (dạng tạm thời, 1877-1880). Nói đúng ra, nhiệm vụ này không làm cho Cha vui thích lắm, dầu ngài vẫn hết sức chu toàn theo lương tâm, và nóng lòng mong được đổi ra giáo xứ để hoạt động. Ao ước này được thực hiện sau cái chết bất ngờ của Đức Cha Pontvianne vào ngày 30/7/1879.

1. Vị chủ chăn Giáo xứ can trường trong thử thách và tận tụy trong nhiệm vụ

Quả thế, vào năm 1880, Đức Cha Antoine Caspar (Lộc), vị kế nhiệm, đã chỉ định Cha Allys về nhiệm sở Dương Sơn, giáo xứ kỳ cựu và từng là cánh đồng hoạt động của Thánh tử đạo Jaccard Phan. Dưới sự hướng dẫn của một linh mục Việt đáng kính (PX Trương Văn Thường), Cha phó trẻ đã bắt đầu học rất nhanh các phong tục tập quán của xứ sở và một năm sau thì lên quản xứ.

Vào năm 1883, bình an lại bị khuấy động. Hòa ước Quý Mùi ra đời, đánh dấu thời kỳ (1883-1945) toàn bộ Việt Nam nằm dưới sự khống chế của thực dân Pháp, khiến phong trào bài giáo do Văn Thân khởi xướng tái bùng nổ dữ dội, mà Cha Allys là một trong những mục tiêu chính. Lo sợ cho ngài, Đức Giám mục Caspar đề nghị ngài vào Kim Long lánh nạn. Đức Cha viết cho ngài như sau : “Một lệnh của quan nhiếp chính (Nguyễn Văn) Tường truyền cho mọi người nam tráng kiện của vương quốc phải ở trong tư thế sẵn sàng để được trưng dụng cùng vũ khí và lương thực. Chúng ta chỉ còn hy vọng ơn cứu thoát nơi Thiên Chúa mà thôi. Chờ dấu hiệu đầu tiên là họ bắt đầu cắt cổ. Chúng ta chỉ còn việc chuẩn bị cho các tín hữu chết lành”. Cha Allys cương quyết sống chết với giáo dân Dương Sơn của mình. Suốt thời gian ấy, ngài vẫn thi hành một thừa tác vụ đầy hiệu quả và biết mang đến cho các tín hữu dồi dào niềm an ủi thiêng liêng để nâng đỡ họ trong cơn thử thách. Những người còn sống sót của thế hệ này thích ca tụng sự hạ cố hoà mình, lòng nhân hậu và tình bác ái của vị thừa sai vốn đã chiếm trọn cõi lòng của họ. Cũng nhờ sự khôn ngoan và can đảm của ngài mà Dương Sơn không bị Văn Thân tàn sát, đang khi nhiều giáo xứ phía nam Giáo phận gặp đại họa.

Sau khi tướng de Courcy chiếm Huế rồi vua Hàm Nghi lẫn quan nhiếp chính thứ hai là Tôn Thất Thuyết chạy trốn ra Cam Lộ ngày 05-07-1885, thì Văn Thân bắt đầu hoành hành tại Quảng Trị, gây ra muôn vàn thảm họa cho tín hữu ! Chỉ trong vòng vài ngày của tháng 9, hơn một nửa Kitô hữu (trên 12 ngàn) đã bị tàn sát và mọi họ đạo đều bị phá huỷ. Theo chỉ thị của Bề trên, Cha Allys đi theo đoàn quân viễn chinh Pháp ra Quảng Trị. Ngài đã tường trình cho Đức Giám mục Caspar về đại nạn của các giáo xứ Kẻ Văn, Ngô Xá, Tri Lễ, Cổ Vưu (Trí Bưu), Dương Lộc, giáo dân già trẻ lớn bé đa phần bị thiêu sống trong nhà thờ hoặc bị chém chết tại nhà riêng; Cha còn nêu cả gương anh hùng tử đạo của một bà lão[1].

Sau khi trở về Huế, Cha Allys được Bề trên đặt làm quản xứ Phủ Cam kiêm quản hạt Bên Thủy (cho đến 1908; Giáo hạt Bên Thủy là vùng từ bờ nam sông Hương đến chân đèo Hải Vân).

Phủ Cam lúc đó có gần 500 giáo dân và Giáo hạt được hình thành từ nhiều giáo xứ nghèo mà một số như Buồng Tằm, Châu Mới, Nước Ngọt đã bị cuộc bách hại tàn sát hàng loạt. Cha Allys can đảm bắt tay vào việc để dựng lại những đổ nát chất chồng do Văn Thân ; ngài đã làm việc tốt đến độ khi ngài rời nhiệm sở, giáo xứ Phủ Cam tăng gần 2.400 giáo dân và cả Giáo hạt có hơn 11.000 người.

Năm Mậu Tuất (1898), Cha Allys mua thêm đất và xây dựng lại Nhà thờ Phủ Cam. Đây là Nhà thờ thứ 9 kể từ cái đầu tiên bằng tranh tre ở Xóm Đá. Nhà thờ được xây trên móng đá ngay nơi hiện là Thánh đường Chính tòa. Kinh phí do Cha xin từ song thân ngài ở Paimpont và giáo phận Rennes (Pháp). Giáo dân tham gia công phụ. Nhà thờ xây trong 4 năm (1898-1902), dâng kính Trái Tim Vẹn Sạch Đức Mẹ. Đến năm 1960, Nhà thờ nầy bị triệt hạ để nhường chỗ cho một Nhà thờ mới.

Đặc biệt dưới thời Cha quản hạt, có phong trào truyền giáo với các Cha phó Anphongsô Trần Bá Lữ (biệt cư Cầu Hai, Nước Ngọt, Hà Úc, Diêm Tụ), Đôminicô Lê Xuân Biện (biệt cư Vĩnh Lại), Đôminicô Lê Văn Phẩm (biệt cư Tiên Nộn), Giuse Nguyễn Văn Linh (biệt cư Nam Phổ), Inhaxiô Đặng Văn Dõng và Phaolô Nguyễn Văn Huồn (đi đi về về). Phong trào này có sự cộng tác của nhiều giáo dân mà đứng đầu là cụ Thượng thư Ngô Đình Khả, nhằm mục đích khôi phục, bù đắp con số giáo dân đã chết trong các cuộc bách hại của Văn Thân tại Giáo phận từ 1883 đến 1886. Nhờ đó, đạo được mở rộng đến Dương Nỗ, Lương Văn, Hòa Đa, Nam Phổ, Sư Lỗ, Tô Đà, Dưỡng Mong, An Nhơn, Mậu Tài, Tiên Nộn, Lại Ân, Qui Lai, Kim Bòng, Cầu Hai… Nghĩa là trong tư cách quản hạt, Cha Allys đã lập nhiều giáo xứ từ Phủ Cam vào tới chân đèo Hải Vân, dọc theo đường xe lửa[2].

Các cuộc trở lại này được thực hiện nhất là trong tầng lớp nghèo khổ. Cha Allys lúc ấy thích nói: “Lời Chúa phán ‘Kẻ nghèo nghe rao giảng Tin Mừng’ đang từng ngày được ứng nghiệm”. Nhưng không phải chỉ có ngưởi nghèo mới trở lại ; cũng có nhiều cuộc cải giáo trong các hàng ngũ cao hơn của xã hội Việt, và ngay cả trong những thành viên của hoàng gia. Một loạt tòng giáo của các cháu nội vua Minh Mạng đã làm chấn động triều đình Huế ngày ấy: các hoàng thân Hường Chức, Hường Tế, Hường Thuyền, Hường Xáng, Các công nữ Thị Phương, Thơ Thơ và Ấu Ấu… Tưởng đấy là một nguy cơ lớn cho vương quốc, triều đình đã bắt 2 hoàng thân Hường Chức Hường Tế, coi như những kẻ mưu phản và kết án tử hình họ. Cha Allys liền can thiệp với Toàn quyền Đông Dương de Lanessan, và nhờ đó bản án tử hình đổi thành lưu đày vĩnh viễn trong tỉnh Quảng Nam, rồi sau ít lâu, hai hoàng thân đã được cho về[3]. Riêng hoàng thân Hường Thuyền là một cựu tu sĩ Phật giáo. Sau khi học giáo lý tại Phủ Cam với Cha Allys rồi được Đức Cha Caspar rửa tội long trọng, ông bị Tôn nhơn phủ cắt mất bổng lộc hai năm, giáng xuống hàng Tôn thất. Nhưng sau đó ông sống một cuộc đời rất thánh thiện (Cha Allys có viết về nhân vật này)[4].

Sự lôi cuốn về với đạo như thế, bắt đầu trong giáo hạt Bên Thuỷ (như thấy trên), nhanh chóng phát triển và lan cả miền truyền giáo. Nhưng khổ thay, phong trào này bị một số nhân vật đời có thế giá dập tắt, vì họ sợ thấy lương dân bị chìm ngập giữa những giáo dân và e ngại ảnh hưởng của họ mất sẽ có lợi cho Miền truyền giáo. Thành thử các năm 1898, 1899, 1900 thật là một thời kỳ buồn, vì lúc đó các tân tòng là những nạn nhân ngang nhiên bị từ chối xét xử. Một số quá lớn, còn yếu đức tin, miễn cưỡng nghĩ rằng mình bị buộc phải chối đạo. Chính lúc đó Cha Allys, mọi thừa sai, với Đức Cha Caspar đi đầu, đã thực hiện vô số can thiệp với triều đình để nâng đỡ những nạn nhân của một cuộc bách hại xảo trá nham hiểm. Nhiều tân tòng ngược lại đã biểu tỏ một sự cương nghị tuyệt vời trước mặt các quan tòa, nhờ vị lãnh đạo Giáo hạt Bên Thủy đã biết cho họ những lời khuyên thích hợp.

Ngoài hoạt động mục vụ giáo xứ và rao giảng Tin Mừng, Cha Allys cũng quan tâm nhiều đến vấn đề giáo dục. Lúc đó, dòng La San đã tới Việt Nam hoạt động từ năm 1866 tại Sài Gòn. Đúng thập niên sau, 1876, vua Tự Đức đã gửi phái đoàn vào gặp các sư huynh để mời ra kinh đô Huế mở trường, nhưng không đạt được thỏa thuận. Năm 1895, theo gợi ý của bề trên là Đức Cha Antoine Caspar và với uy tín của mình, Cha Allys đã vận động tìm một thửa đất và đề nghị khâm sứ Pháp lúc bấy giờ là ông Brière đích thân vào Sài Gòn mời các sư huynh ra Huế, nhưng một lần nữa, mong muốn của Cha cũng chẳng thành tựu.

Đến năm 1900, Đức Giám mục Antoine Caspar viết thư cho sư huynh Giám tỉnh đương nhiệm là Louis Ivarch, mời các thầy ra Huế phục vụ ; hai năm sau (1902) Đức Cha lại gởi Cha Allys và Cha François Patinier (Kính) vào Sài Gòn để trao đổi với sư huynh và đã đạt được thỏa thuận, nhờ Cha Allys chấp nhận lo toan mọi phí tổn xây dựng khi mở trường.

Sau khi chọn được thửa đất công nằm trên một bán đảo được bao bọc bởi sông lớn Hương Giang và sông đào Phủ Cam, rộng khoảng 2.000m2 và nằm gần ga xe lửa Huế, Cha Allys cùng sư huynh Ivarch quyết tâm tậu cho bằng được thửa đất nầy. Hai vị vận động chính quyền Pháp bán đứt nó cho dòng. Thời điểm ấy, chính quyền thành phố lại đang tìm đất để làm nghĩa trang chôn cất người Âu. Để xua tan mọi ngập ngừng của họ, Cha Allys chấp nhận nhượng lại một khu đất lớn phía sau nhà thờ Phủ Cam để họ làm nghĩa trang cho đồng hương của họ (địa điểm này nay đã bị giải tỏa để làm trường Phước Vĩnh). Cha Allys còn đứng tên mua đất nhưng sở hữu chủ vẫn là dòng La San.

Ngày 18/3/1903, các sư huynh được gửi đến Huế để tiến hành việc xây dựng. Ngôi trường được khánh thành ngày 15/5/1904, mang danh Pellerin, tên vị Giám mục tiên khởi của Giáo phận. (nếu không tính Đức Cha Étienne Cuénot Thể). Cha Allys còn tiếp tục nâng đỡ nhà trường sau trận bão năm Thìn 1904. Đến khi làm Giám mục, ngài vẫn còn giúp trường bớt đi một số khoản thuế phải đóng bằng việc tuyên bố trường là tài sản của Hội Thừa sai. Các sư huynh hiệu trưởng được ngài coi là bạn và năng lui tới cho đến khi qua đời. Bởi thế, ngài được Dòng La San nhìn nhận như ân nhân của các sư huynh.

Tưởng cũng nên thêm rằng việc thành lập trường Thiên Hựu, ngôi trường Công giáo lớn thứ hai tại Huế vào năm 1933 bởi Đức Giám mục Paul Chabanon, cũng là do gợi ý của Đức Cha Allys sau khi ngài nhìn thấy những gì cặp vợ chồng hoàng gia Bảo Đại – Nam Phương thu nhận được từ lối giáo dục Paris (Bảo Đại) và từ truyền thống Kitô giáo Sài Gòn (Nam Phương) (theo Cha Georges Lefas), và vị hiệu trưởng đầu tiên của trường chính là một trong những nghĩa tử của Đức Cha : Cha Phêrô Máctinô Ngô Đình Thục.

2. Vị mục tử Giáo phận đầy viễn kiến mục vụ và truyền giáo đa dạng

Ngày 24/5/1908, Cha Allys được tấn phong Giám mục do tay Đức Cha Lucien Mossard, Đại diện Tông tòa Tây Đàng Trong (Sài Gòn), chính trong ngôi nhà thờ Phủ Cam mà ngài đã xây dựng. Đức Cha là Đại diện Tông tòa thứ 5 của Giáo phận, tính từ ĐGM François Pellerin.

Việc đầu tiên của vị chủ chăn mới là chuyển tòa Giám mục từ Kim Long (thời Đức Cha Caspar) về Phủ Cam và lấy nhà thờ Phủ Cam làm Chính tòa.

a) Xây nhà thờ và lập họ đạo mới

Đức Cha sống rất đơn giản, ăn uống đạm bạc (mỗi bữa cơm chỉ đôi ba con cá với dĩa muối mè), dồn hết mọi công sức tiền bạc lo cho các dự tòng và phát triển Giáo phận. Ngài nhờ cụ Thượng thư Nguyễn Hữu Bài mua lại các vườn tư ở gần sông Phủ Cam và giao cho Cha Jean Léculier (cố Lựu) xây tòa Giám mục và sở Quản lý Giáo phận. Năm 1909, ngài về ở tòa Giám mục mới.

Năm 1911 Đức Cha cũng cho mua một thửa đất tại đường Nguyễn Tri Phương bây giờ, khởi sự xây nhà thờ Phanxicô Xaviê vào năm 1914 và khánh thành ngày 15/8/1918, chủ yếu dành cho người Âu (dân gian gọi là Nhà thờ Nhà nước). Cha Jean Léculier là quản xứ đầu tiên họ đạo này. Năm 1929, Đức Cha lại còn mua một thửa vườn khá rộng ở phố Gia Hội, xây một Nhà thờ nhỏ giao cho Cha Inhaxiô Đặng Văn Dõng, nâng giáo họ Gia Hội thành giáo xứ.

Trong Thành nội, dù có luật là không được xây nhà thờ, nhưng thời vua Thành Thái (1889-1907), với sự giúp đỡ nhiệt tình của Thượng thư bộ Lễ Ngô Đình Khả, một ngôi nhà nguyện bằng tranh cũng đã xuất hiện ở Cầu Kho, tại địa điểm nhà thờ Tây Linh hiện thời.

Tiếp tục cái đà như thời làm quản hạt Bên Thủy, Đức Cha đã lập thêm ít nhất 25 giáo xứ mới tại 3 tỉnh Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình (xem mục Thành quả Mục vụ bên dưới).

Bản thân Đức Cha có 5 nghĩa tử trổi trang : Đôminicô Hồ Ngọc Cẩn (Giám mục thứ 2 của VN), Phêrô Máctinô Ngô Đình Thục (Giám mục thứ 3), Giuse Trần Văn Trang (Đấng sáng lập dòng Con Đức Mẹ Đi Viếng), Phaolô Trần Bá Úy (vị tông đồ của vùng Trung Quán), GB Bừu Đồng (vị tử đạo năm Mậu Thân tại An Truyền).b) Lập 2 dòng mới lo huấn giáo, giáo dục và rao giảng Tin Mừng

Vào đầu thế kỷ XX, chữ Nôm và lối học từ chương lui dần vào quá khứ để nhường cho chữ Quốc ngữ và các môn học khoa học và xã hội. Ngoài trường tiểu học Jeanne d’Arc (1903) của các soeurs Saint Paul de Chartres và trường trung học Pellerin (1904) của các frères (sư huynh) La San, Giáo phận Huế cũng có trường tại các giáo xứ nhưng chủ yếu dạy kinh nguyện và giáo lý, chưa có giáo viên được đào tạo để dạy học. Số trẻ em ngày càng đông, lớn lên trong đời sống thôn dã, mù chữ, vô nghề nghiệp. Một số trẻ em công giáo khá giả được vào học các trường công, nhưng nơi đây các giáo viên vô thần thường bài xích đạo.

Tình hình đó trở nên mối ưu tư canh cánh bên lòng của vị mục tử Giáo phận, nên dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, ngài đã thành lập 2 dòng Giáo phận và công nhận một dòng Giáo phận khác.

  + Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm (1920)

Trước tiên Đức Cha Allys quyết định mở một trường sư phạm nữ tu bản xứ Đức Mẹ Vô Nhiễm (École normale des religieuses indigènes de Marie Immaculée) để đào tạo nữ tu dạy giáo lý và chữ nghĩa cho trẻ em, đồng thời có khả năng phục vụ các công việc bác ái xã hội, mở các bệnh xá, cô nhi viện, trường nữ công gia chánh. Ngài phúc trình về Hội Thừa sai Paris: “Các nữ tu này một khi đã có bằng cấp, họ sẽ mở trường học và chính họ cũng sẽ đi vào trong các giáo xứ, dạy dỗ và đào tạo đời sống đạo đức cho con trẻ. Họ giúp các linh mục giáo xứ bớt lao đao vất vả vì công việc mục vụ”[5]

Chiều ngày 07-09-1920, sáu chị Mến Thánh Giá Dương Sơn đáp lời mời của Đức Cha chèo thuyền ngược dòng Hương Giang, cập bến Phú Xuân. Sáng ngày 08-09-1920, lễ Sinh nhật Đức Mẹ, Cha Paul Chabanon (Giáo), Giám đốc Đại Chủng viện, đã dâng thánh lễ tại nguyện đường dòng Kín, khai sinh hội dòng mới. Từ 6 hạt mầm nho nhỏ, hội dòng được lớn lên từ nôi mẹ là tòa Giám mục cũ, ngôi nhà được xây khoảng năm 1888 đời Đức Cha Caspar (nay làm nhà truyền thống của dòng).

Sau gần 10 năm huấn luyện các nữ tu, ngày 25/5/1930 Đức Cha Allys tường trình lên Tòa thánh về hội dòng mới, để xin Đức Thánh Cha châu phê theo giáo luật. Ngày 03-07-1931, Bộ Truyền giáo phúc đáp bằng văn thư cho Đức Khâm sứ Tòa thánh Columban Dreyer cho phép Bản quyền Giáo phận ban hành “Nghị định Thiết lập” theo giáo luật. Ngày 14-08-1931, áp lễ Đức Mẹ Lên Trời Hồn Xác, với tư cách Giám mục Giáo phận, Đức Cha Chabanon đã ký Nghị định Thiết lập Hội dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm, chính thức công nhận đường lối và tinh thần tu trì của dòng : hiến thân cho Thiên Chúa theo chân Đức Kitô bằng ba lời khấn khiết tịnh, nghèo khó và vâng phục, để làm vinh danh Thiên Chúa hơn và gia tăng lòng tôn kính Đức Trinh Nữ Maria, để đẩy mạnh hơn việc cứu rỗi các linh hồn bằng công cuộc giáo dục giới trẻ theo tinh thần Kitô giáo.

Hiện nay, hội dòng có 499 nữ tu đã khấn, 34 tập sinh, 16 tiền tập sinh, 79 thanh tuyển. Chị em hiện diện và phục vụ trong 58 cộng đoàn trên 11 Giáo phận trong nước và 2 ở hải ngoại (Hoa Kỳ) (Lịch Công giáo TGP Huế 2023-2024); hiện diện tích cực, năng nổ, nhiệt thành trong 5 trường mẫu giáo lớn và 22 trường mẫu giáo nhỏ với hơn 5.681 học sinh. Chị em cũng dấn thân hết mình trong 13 nhà nội trú cho 510 thanh thiếu nữ mà phần lớn thuộc sắc tộc (số liệu 2020). Trong lãnh vực đức tin, chị em cộng tác đắc lực với các linh mục quản xứ để dạy giáo lý, lo các hội đoàn, ca đoàn. Ngoài ra chị em cũng thực hiện các công cuộc bác ái xã hội : một phòng khám từ thiện phục vụ miễn phí cho người nghèo từ 28 năm qua, ba nhà đông y, một nhà khuyết tật dành cho trẻ em bại não, câm điếc. Chị em cũng đồng hành với các bệnh nhân HIV (AIDS) để giúp đỡ động viên họ nhiều năm rồi. Những điều đó cho thấy chị em vẫn hăng say trung thành với ý nguyện ban đầu của Đấng Sáng lập: “Thương giúp người ta phần hồn phần xác… Dạy dỗ đồng nhi bất kỳ ngoại đạo, nhất là nhi nữ có đạo… Thật chẳng có gì làm sáng danh Đức Chúa Trời cùng làm ích cho xã hội cho bằng sự vẽ vời cho con trẻ biết đàng lên Trời, nhen lửa kính mến Chúa và yêu thương người ta trong lòng nó, dạy nó mọi sự toàn vẹn hồn xác… ” (Luật tiên khởi XIII)[6]

+ Dòng Sư huynh Giáo giảng viên Thánh Tâm Chúa Giêsu (1925)

Sau khi lập dòng nữ, Đức Cha Allys khởi công lập dòng nam để làm thầy dạy nam nhi ở các trường họ đạo. Ngài viết trong lưu bút: “Mục đích là làm thầy dạy đạo và đời. Dạy đạo là dạy kinh nghĩa lẽ đạo, giúp người ta biết Chúa, làm cho anh em trở lại đạo Chúa. Dạy đời là làm thầy giảng các trường họ, dạy trẻ con thi các bằng sơ học theo chương trình nhà nước”.

Đó không phải là điều dễ dàng. Đức Giám mục Đôminicô Hồ Ngọc Cẩn (nghĩa tử của Đức Cha) từng ghi trong nhật ký: “Qua đầu năm 1924, trong tháng 1, khi các cố hội lại cấm phòng tại trường Lý đoán (ct : Đại chủng viện) ở Phú Xuân, thì Đức Cha Lý đã tỏ ý cho các cố hay ý người toan lập một dòng Thầy Giảng, cách thức như dòng Cha Jean de La Mennais đã lập bên Tây[7]. Vậy từ đó mới có tiếng đồn ra sẽ có một Cha đứng ra lập dòng ấy. Bấy giờ kẻ nói thượng, người nói hạ, kẻ chê người khen, kẻ nghĩ thế này, người bàn thế nọ. Song Đức Cha lòng vàng đá, vững dạ sắt son, đã định làm sao quyết làm nên như vậy. Người chẳng xin Nhà Chung giúp một đồng, nên chẳng ai bẻ bai này nọ…”        

Dòng được Đức Cha thành lập ngày 09-10-1925 tại Phường Đúc, Huế, như một dòng giáo dân. Đồng hành với Đức Cha từ những ngày đầu là Cha Đôminicô Hồ Ngọc Cẩn (gốc giáo xứ Ba Châu). Lúc ấy Cha Đôminicô đang làm giáo sư chủng viện An Ninh, sau vâng lời Đức Cha làm bề trên tiên khởi của dòng. Dẫu có người đồng hành như thế, nhưng rất nhiều công việc từ kiếm tiền, mua đất, thiết kế xây dựng đến việc hình thành luật lệ nội qui, tuyển nhân sự, vẫn là một khối những điều mà Đức Cha phải lo toan cả. May nhờ ông bà Denis Lê Phát An (cậu mợ của Nam Phương hoàng hậu) đã rộng tay giúp đỡ tiền bạc để hình thành cơ sở ban đầu tại Trường An, sau lưng nhà thờ giáo xứ Phường Đúc hiện thời (nhưng nay đã chuyển thành một cơ quan của nhà nước).

Ngày 24/11/2013, dòng chính thức trở thành dòng giáo sĩ, thuộc luật Giáo phận, bao gồm các tu sĩ linh mục và tu sĩ thường.

Trải qua bao biến thiên của thời cuộc, nay vị Tổ phụ sáng lập, đang “đứng” đối diện với cổng Nhà mẹ mới ở số 67 Phan Đình Phùng, phường Vĩnh Ninh, thành phố Huế, có thể hài lòng chứng kiến thành quả của mình: 71 linh mục, 17 phó tế, 217 tu sĩ (135 khấn trọn, 81 khấn tạm), 11 tập sinh, 21 thỉnh sinh, 30 đệ tử (theo Lịch Công giáo TGP Huế 2023-2024).

c) Hỗ trợ lập 2 dòng mới sống đời chiêm niệm và rao giảng Tin Mừng

  + Dòng Xitô Thánh Gia (1920)

Dòng Xitô Thánh Gia (tên cũ: Dòng Đức Bà An Nam) do Cha Henri Denis Thuận (tên dòng là Benoît) thành lập nhưng được sự thúc đẩy và hỗ trợ của Đức Cha Allys.

Cha Henri Denis vốn là một linh mục thuộc Hội Thừa sai Paris được cử sang Việt Nam và đến Huế năm 1903. Nhiệm sở đầu tiên của Cha là Tiểu Chủng viện An Ninh (1903-1908). Từ 1908 đến 1913, Cha làm quản xứ Nước Mặn. Giữa tháng 2-1913, Cha lại được gọi về Tiểu Chủng viện và dạy ở đó cho tới năm 1918.

Dẫu bộn bề với công việc mục vụ và giảng huấn, lòng Cha Henri vẫn hằng ấp ủ ước mơ trở thành đan sĩ chiêm niệm và thiết lập một cộng đoàn đan tu. Trong thư gửi lên Đức Cha Allys ngày 31/01/1912, Cha viết: “(…) Lý tưởng mà con mơ ước là được làm tu sĩ tông đồ tại An Nam ; nơi đó, Thiên Chúa cần được một số người nhận biết, yêu mến và phụng sự cách triệt để hơn. Họ có nhiệm vụ làm cho mọi Kitô hữu nhận thức rằng lý tưởng đan tu không phải là một “chuyện đời xưa”, nhưng nó còn hiện thực và hiện thực hôm nay cũng như thời xưa.”[8].

Tháng 12/1917 Đức Giám mục bằng lòng cho phép Cha Henri lập Dòng trong Giáo phận Huế dạng thử nghiệm một thời gian. Đức Cha cử Cha Paul Chabanon (Giáo, Giám mục tương lai) ra trường An Ninh dẫn Cha Henri đi tìm đất, đồng thời viết thư xin cụ Phước Môn Nguyễn Hữu Bài hỗ trợ Cha Henri chuyện này. Cụ Phước Môn rất sốt sắng phúc đáp : “Bằng lòng dâng 1 cây số vuông trong đất Phước Sơn, muốn chọn chỗ nào mặc ý, trừ những chỗ đã khai khẩn rồi”.[9]

Sau khi đã tìm được đất lập dòng ở núi Phước Sơn, Đức Cha Allys Lý tiếp tục lo hoàn tất thủ tục pháp lý. Theo Giáo luật, Giám mục được quyền ban phép lập dòng song phải đệ đơn xin Toà thánh. Ngày 15/4/1918, Đức Cha Allys Lý đã gửi thỉnh nguyện thư lên Hồng y Bộ trưởng Bộ Truyền giáo Van Rossum về việc thành lập dòng. Trong thỉnh nguyện thư, Đức Cha đề cao Cha Denis Thuận là người có đời sống đạo đức, trí khôn sắc sảo và có khát vọng lập dòng nam chiêm niệm cho người bản địa. Đức Cha cảm phục lòng kiên nhẫn của vị thừa sai tốt lành và xác nhận sự hữu ích khi có được một dòng nam chiêm niệm tại Giáo phận Huế, vì điều đó góp phần đắc lực cho sứ vụ truyền giáo và mang lại phần rỗi cho nhiều người.

Mặc dầu đã được Toà thánh châu phê lập dòng năm 1918, nhưng Đức Cha Allys còn muốn thử Cha Denis Thuận một thời gian, nên mãi đến ngày 19/3/1920 mới chính thức ban hành sắc chỉ lập dòng, với tên gọi Đức Bà An Nam. Trong sắc chỉ, Đức Cha nói rõ mục đích của dòng là chuyên lo nguyện ngắm hãm mình và nên trọn lành, tuân giữ tu luật thánh Biển Đức và cầu nguyện cho những người chưa nhận biết Chúa.

Nhận thấy dòng lúc ấy đối diện với nhiều khó khăn trong tiến trình ổn định và xây dựng một cộng đoàn đan tu theo tinh thần Xitô, nên năm 1920, Đức Cha đã ban phép cho thừa sai Bernard Mendiboure (Nhơn) quản xứ Lăng Cô, được vào dòng để giúp đỡ vị sáng lập. Cha Bernard sẽ là bề trên thứ hai của Dòng khi Cha Benoît qua đời năm 1933.

Qua những bút của các bậc tiền nhân và các lá thư của Cha Benoît Thuận, người ta thấy Đức Cha Allys đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng con cái Xitô Thánh Gia như hình ảnh một người Cha khôn ngoan, đạo đức và nhân hậu, lo cho con cái mình thực hiện khát vọng sống đời đan tu. Nhờ đó, những thách đố của thời cuộc, những khó khăn về vật chất, sự nghi nan của các đồng môn vẫn không dập tắt được ý muốn của Cha Benoît trong việc thành lập và phát triển dòng.

  + Dòng Con Đức Mẹ Đi Viếng (1924)

Dòng Con Đức Mẹ Đi Viếng Huế được thành lập do linh mục Giuse Trần Văn Trang nhưng cũng có sự thúc đẩy và trợ lực của Đức Cha Allys.

Cậu Trang từ nhỏ đã tỏ ra thông minh, đạo đức nên được Đức Cha, thân quen với gia đình, giới thiệu cho đi tu. Chính Đức Cha cũng là nghĩa phụ, linh hướng của thầy Trang và đã đặt tay truyền chức linh mục cho thầy ngày 11/01/1910.

Theo gương nghĩa phụ, Cha Giuse cũng mang tinh thần truyền giáo: yêu thương đặc biệt anh chị em lương dân, dành nhiều thời giờ và công sức giúp đỡ họ về vật chất lẫn tinh thần và khao khát làm sao cho họ được biết Chúa. Chính ưu tư truyền giáo đã khiến Cha có ý định thành lập một dòng tu nữ để có thêm nhiều tâm hồn tận hiến làm việc trên cánh đồng truyền giáo bao la. Ý định lập dòng được Cha Giuse ấp ủ từ lúc vừa chịu chức nhưng đến năm 1920 Cha mới mạnh dạn trình bày khát vọng đó lên vị Chủ chăn Giáo phận, nhưng ngài dạy: Hãy cầu nguyện và chờ đợi thánh ý Chúa”. Năm 1922, Đức Cha bảo làm đơn, và đến năm 1924 ban phép cho quy tụ các mầm non ơn gọi đầu tiên, lúc này Cha Giuse đang làm quản xứ Kim Đôi.

Sau khi ban phép quy tụ, ngày 20/7/1924, Đức Cha Allys lại cho hai chị dòng Mến Thánh Giá là Hồ Thị Thú và Lê Thị Tịnh đến giúp Cha Trang vun xới 14 mầm non ơn gọi đầu tiên tại Kim Đôi. Hai nữ tu này trước thuộc tu viện Mến Thánh Giá Di Loan, sau được Đức Cha Allys gọi lên làm nhà tập rồi tuyên khấn tại dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm Phú Xuân, trở nên thành viên của dòng. Chị Thú lấy tên dòng là Valentine, chị Tịnh lấy tên dòng là Thérèse. Sau khi khấn, cả hai trở về lại Kim Đôi tiếp tục hướng dẫn chị em trong tư cách bề trên tu hội suốt thời gian khởi đầu. Các chị em tiên khởi chăm chỉ làm việc và nhiệt thành sống đời cầu nguyện, ăn Chay hy sinh khổ chế với lời hứa trong bậc tu trì. Nhà dòng non trẻ này được Chúa chúc phúc cho phát triển và sinh nhiều hoa trái tốt đẹp nên chỉ sau 13 năm (1937), tu hội hạnh phúc đón nhận sự phê chuẩn chính thức của Tòa thánh để trở thành một hội dòng có lời khấn công, với tên gọi Mến Thánh Giá Cải Cách.

Từ đó chị em phấn khởi sống đời dâng hiến và góp phần phục vụ Giáo hội và xã hội qua việc giúp mục vụ giáo xứ, dạy học, coi nhà cô nhi, làm thuốc trong các địa điểm truyền giáo của giáo phận, nhất là rao giảng Tin Mừng cho lương dân. Năm 1965, vì tình hình chiến tranh, tu viện phải rời Kim Đôi, di chuyển lên gần thành phố Huế, tới vùng Phú Hậu. Năm 1967, thời Đức TGM Philipphê Nguyễn Kim Điền, dòng đổi sang danh hiệu mới : Con Đức Mẹ Đi Viếng.

Trở lại với Đức Cha Lý, ngài luôn yêu quý công trình của nghĩa từ. Ngài nói trong giờ phút cuối đời : “Kim Đôi ! Kim Đôi ! Cha sống Cha cầu cho Kim Đôi, Cha vô luyện tội Cha cầu cho Kim Đôi, Cha lên thiên đàng Cha cũng cầu cho Kim Đôi”. Chính nhờ ơn Chúa, công sức của mọi thành viên hội dòng và nhờ lời cầu nguyện của “Ông nội” Allys mà hiện nay mà Hội dòng có 318 nữ tu: khấn trọn 25, khấn tạm 59, tập sinh 16, 31 cộng đoàn trong nước tại 6 Giáo phận và 3 cộng đoàn ở hải ngoại (theo Lịch Công giáo TGP Huế 2023-2024).

d) Mời gọi và đón tiếp các dòng có những đặc sủng khác nhau

  + Dòng Kín Cát Minh (1910)

Trước khi thành lập 2 dòng nói trên, thì chỉ 1 năm sau khi lãnh chức Giám mục, tức 1909, trong Báo cáo Thường niên gởi Hội Thừa sai Paris, Đức Cha Allys có viết : “Người ta kể rằng trong thời gian bị tù ở Huế (ct : 1846, thời vua Thiệu Trị), Đức Cha Dominique Lefèvre, đấng đạo đức thánh thiện đáng nhớ, đã có một thị kiến : vị đại cải cách dòng Cát Minh (Thánh Têrêxa Avila) đã hiện ra với ngài và truyền lệnh cho ngài phải lập nhiều đan viện Cát Minh tại vương quốc An Nam để làm cho Giáo hội Đông Dương phồn thịnh hơn nữa. Cuộc hiện ra đó đã thực xự xảy đến chăng ? Tôi không biết. Có điều chắc chắn, đó là Đức Cha Lefèvre, vừa được trả tự do, đã vội mời các nữ tử của thánh Têrêxa đến Sài Gòn (1861). Chính từ đó họ đã ra đi, để lập một đan viện thứ hai tại Hà Nội (1895), ở đầu kia của vương quốc An Nam.

Tuy nhiên, hai cơ sở này đã không đủ cho lòng nhiệt thành của các nữ tu thánh thiện ấy, và đối với họ, có vẻ như bao lâu họ chưa đến, với tràng chuỗi nơi tay, chinh phục chính thủ đô của An Nam trong hòa bình, thì họ chưa hoàn tất ý muốn của vị Thánh nữ sáng lập. Cho nên họ đã cảm thấy vui sướng dường nào khi nhiều hoản cảnh quan phòng mở ra cho họ con đường đến Huế, và cho phép họ tới thiết lập tu viện kín của mình không xa (chỉ vài trăm mét) lâu đài của các vua Minh Mạng và Tự Đức, những kẻ bách hại Kitô giáo khốc liệt hơn cả. Ước gì cơ sở này, mà cảnh nghèo khó của chúng tôi đã không cho phép chúng tôi đóng góp xây dựng, trở thành một sự bảo vệ liên lục và hùng mạnh cho Miền Truyền giáo của chúng tôi“.

Một sử liệu nhân dịp Ngân khánh dòng Cát Minh 1934 cũng có viết : “Lập nên đan viện nữ Cát Minh tại Huế là một trong các việc làm đầu tiên của Đức Cha Lý (Allys). Vì xác tín rằng lời cầu nguyện và việc đền tội là điều kiện cần thiết cho việc Phúc Âm hóa một cách nghiêm chỉnh, cho nên ngay từ giờ phút đầu tiên, vị Đại diện Tông tòa xin được bảo đảm việc trợ giúp các con cái Thánh nữ Têrêsa”. Thành thử đầu tháng 10-1909, Đức Cha Allys đích thân ra Hà Nội đón các chị Cát Minh vào lập dòng Kín ở Giáo phận. Năm chị đến Huế ngày lễ kính các Thiên thần 02-10-1909. Các chị được tạm trú tại nhà dòng Thánh Phaolô thành Chartres Kim Long để chờ xây cất đan viện sát bên cạnh. Chỉ trong ba tháng, đan viện mới, bao gồm một nhà ở và một nhà nguyện xinh đẹp đã hoàn thành bên bờ sông Hương êm đềm, và được đặt dưới sự bảo trợ của Mẹ Thánh Têrêsa Avila.

Nhân kỷ niệm hơn một thế kỷ đan viện Cát Minh có mặt tại Huế (2020), bà bề trên Marie Teresita Thánh Thể Ngô Thị Kim Dung có viết : “110 năm hiện hữu trên đất Huế thân yêu, chị em đan viện Cát Minh Huế chúng con xin được chung lời nói lên lòng biết ơn đối với Đức Cha Allys. Ngài là người Cha đáng kính, Đấng thành lập dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm và dòng Thánh Tâm. Đồng thời ngài cũng là vị bảo trợ đan viện Cát Minh Huế chúng con. Chính nhờ ngài mà chúng con được hiện diện ở nơi đây để “ngày đêm tỉnh thức cầu nguyện” theo tinh thần của Mẹ Thánh Têrêsa[10].

  + Dòng Chúa Cứu Thế (1929)

Năm 1925, thể theo yêu cầu của Đức Giám mục Henri Lécroart, Khâm sai Tòa thánh tại Đông Dương, Tổng trưởng Thánh bộ Truyền giáo là Hồng y Van Rossum, thuộc dòng Chúa Cứu Thế, đã cho thực hiện việc thành lập dòng này tại Việt Nam để “giảng tại đó những cuộc đại phúc và cấm phòng, nhất là cho hàng giáo sĩ, để làm quật khởi tinh thần và lòng nhiệt thành linh mục”. Tỉnh dòng Sainte-Anne-de-Beaupré (Canada) được giao nhiệm vụ.

Khi quyết định Huế là nơi lập DCCT đầu tiên tại Việt Nam, bề trên tỉnh dòng đã gửi thư cho Đức Cha Allys, Đại diện Tông toà Giáo phận. Nhận được tin, Đức Cha rất đỗi vui mừng. Bức thư ngài viết cho vị giám tỉnh, in trong niên san Annales de Sainte-Anne 1925, có những lời như sau : “Tôi vô cùng hạnh phúc được biết về quyết định của Thánh bộ Truyền giáo gửi các tu sĩ DCCT đến Đông Dương. Tôi lại được niềm vui biết rằng các ngài sẽ cư trú tại Huế. Có hai khó khăn : Huế không phải là giáo đoàn đẹp nhất tại Đông Dương và chẳng có khả năng để giúp về tài chánh. Nhưng tôi có thể cam đoan với các ngài là các ngài sẽ được tiếp đón với tất cả tấm lòng, và đang khi chờ đợi các ngài xây nhà thì toà Giám mục và Chủng viện sẽ rất hân hạnh được đón tiếp các ngài…”.

Ngày 30-11-1925, hai linh mục và một trợ sĩ dòng Chúa Cứu Thế từ Canada đến Huế, đó là Cha Hubert Cousineau, Cha Eugène Larouche và thầy Barnabé St-Pierre, được Đức Cha Allys tiếp đón nồng hậu. Ký sự viết: “Chiều thứ 2, vào lúc 2g (ngày 30-11-1925), chúng tôi đáp xe lửa (từ ga Đà Nẵng) ra Huế… Được nửa chừng, một sự ngạc nhiên rất thích thú đã đến với chúng tôi tại ga Thừa Lưu. Chúng tôi thấy Đức Cha Allys bước vào toa chúng tôi cùng với hai hoặc ba linh mục bản xứ và một vị thừa sai – Cha Fasseaux… Vừa thấy Đức Cha, chúng tôi quỳ ngay xuống để hôn nhẫn và xin ngài ban phép lành cho. Ngài nâng chúng tôi dậy và ôm hôn huynh đệ. Ngài hỏi han về cuộc hành trình, về sức khoẻ, và như không thể nói lên được niềm hân hoan của ngài khi được đón chúng tôi vào Giáo phận Huế của ngài. Trong cả hơn tiếng đồng hồ, Đức Cha đã làm cho chúng tôi hết sức bồi hồi vì lòng ưu ái của ngài đã làm cho chúng tôi rất cảm kích và kính phục ngài vì lòng nhiệt thành tông đồ của ngài… Ngài đã quyết rằng niềm hạnh phúc của ngài là được thấy các tu sĩ DCCT thành lập vững mạnh tại Đông Dương… Ngài luôn nói với chúng tôi: ‘Các Cha đừng sợ gì cả, ơn gọi sẽ rất nhiều và tốt nữa. Các Cha hãy bắt tay vào việc ngay, càng sớm càng tốt. Phải làm mau chóng’. Vào quãng 6 giờ (chiều), chúng tôi xuống ga Huế, lòng tràn ngập niềm vui và biết ơn. Đó là ngày 30-11-1925, 45 hôm sau khi rời Beaupré…

  Khi Đức Cha qua đời ngày 23-04-1936, Cha Larouche đã viết những lời tiễn biệt như sau: “Đối với chúng tôi, mãi mãi ngài là một người Cha đầy lòng nhân ái đã đón nhận chúng tôi làm con trên đất Đông Dương này, đã cho chúng tôi trú ngụ dưới mái nhà của ngài khi chúng tôi đáp tiếng gọi của Thiên Chúa qua Đức Hồng y Van Rossum, Tổng trưởng Thánh bộ Truyền giáo để đến chia sẻ lao nhọc thừa sai với các thừa sai của ngài. Và chúng tôi thương tiếc ngài như người Cha của dòng chúng tôi tại đất An Nam”.

3. Thành quả mục vụ của 23 năm điều khiển Giáo phận (1908-1931)[11]

Dịp Ngân khánh Giám mục của Đức Cha Allys 1908-1933, Cha Giuse Trần Văn Trang đã có một báo cáo như sau về thảnh quả mục vụ của vị chủ chăn Giáo phận :

1- Lập tòa Giám mục và sở Quản lý mới tại bờ sông Phủ Cam.

2- Lập giáo xứ cho dân Tây gần kinh thành (giáo xứ Phanxicô Xavie hiện thời).

3- Lập giáo xứ Gia Hội gần kinh thành.

4- Đem dòng Kín Cát Minh đến ở Huế theo ý kiến Đức Cha Caspar đã tính trước.

5- Lập dòng Con Đức Bà Chẳng Hề Mắc Tội Tổ Tông (dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm) tại Phú Xuân.

6- Lập nhà phước Kim Hai (dòng Con Đức Mẹ Đi Viếng Kim Đôi).

7- Lập dòng Anh em Hèn mọn để dạy con nít các họ tại Trường An (dòng Thánh Tâm).

8- Cổ động các Cha dòng Chúa Cứu Thế đến lập dòng trong Giáo phận.

9- Giúp Cha Benoît lập dòng khổ tu tại Phước Sơn (dòng Xitô Thánh Gia).

10- Phong chức (từ 1908 đến 1928) 67 Cha, chết 2 còn 65 Cha đang làm việc tông đồ. Cả Giáo phận có 103 Cha bổn quốc, 38 Cha khác là do tay các Giám mục khác. Hai vị về sau làm Giám mục là Phêrô Máctinô Ngô Đình Thục và Tađêô Lê Hữu Từ.

11- Đưa lương dân trở lại Công giáo mỗi năm từ 1.500 đến 1.700 người (37 ngàn tân tòng).

12- Lập 25 giáo xứ mới có Cha sở coi sóc : Tỉnh Thừa Thiên 13 : Bác Vọng, Đại Lược, Gia Hội, Hà Vĩnh, Hòa Đa, Kim Đôi, Lương Văn, Phú Ngạn, Thần Phù, Thế Chí, Văn Giang, Vinh Hòa, Vĩnh Trị.

Tỉnh Quảng Trị 6 : Bến Cộ, La Vang, Linh Yên, Mai Xá, Phước Môn, Thủy Ba. Tỉnh Quảng Bình 6 : An Lạc, Ba Canh, Ngân Sơn, Trung Quán, Vạn Xuân, Xuân Hòa.

13- Số con nít kẻ ngoại chịu phép rửa tội lúc lâm chung mỗi năm cũng khoảng 16, 17 ngàn[12].

4. Những sự kiện nổi bật trong thời Đức Cha Allys

  a- Ngày 02-5-1909, Đức Giáo hoàng Piô X phong chân phước cho 20 vị Tử đạo Việt Nam, trong đó có 6 vị thuộc Giáo phận Huế : 1. Micae Hồ Đình Hy tử đạo 22-05-1857, 2. Phanxicô Nguyễn Văn Trung tử đạo 06-10-1858, 3. Giuse Lê Đăng Thị tử đạo 24-10-1860, 4. Mathêô Nguyễn Văn Phượng tử đạo 26-05-1861, 5. Gioan Đoạn Trinh Hoan tử đạo 26-05-1861, 6. Têphanô Cuénot (Thể) tử đạo 14-11-1861.

  b- Ngày 03-12-1924, Đức Giáo hoàng Piô XI đã cho đổi tên một loạt các Giáo phận tại Việt Nam theo địa danh nơi đặt tòa Giám mục, bấy giờ là 10 Giáo phận gồm Hưng Hóa (trước là Thượng Đàng Ngoài), Bắc Ninh (trước là Bắc Đàng Ngoài), Hải Phòng (trước là Đông Đàng Ngoài), Hà Nội (trước là Tây Đàng Ngoài), Bùi Chu (trước là Trung Đàng Ngoài), Phát Diệm (trước là Duyên hải Đàng Ngoài), Vinh (trước là Nam Đàng Ngoài), Huế (trước là Bắc Đàng Trong), Qui Nhơn (trước là Đông Đàng Trong), Sài Gòn (trước là Tây Đàng Trong). Giáo phận Huế lúc ấy có 44 thừa sai, 83 linh mục, 35 sư huynh, 500 nữ tu, 68.000 giáo dân.

  c- Đức Giáo hoàng Piô XI lập tòa Khâm mạng/Khâm sứ Tòa thánh ở Huế coi cả vùng Đông Dương ngày 20-05-1925 qua tông thư Ex Officio Supremo. Đây là công lao của Thượng thư bộ Lại Nguyễn Hữu Bài, một cộng tác viên giáo dân xuất sắc của Đức Cha Allys. Năm 1922, trong tư cách thành viên phái đoàn vua Khải Định đi Pháp, cụ Thượng đã sang Rôma yết kiến Đức Piô XI để thỉnh cầu bổ nhiệm Khâm sứ tại Việt Nam và phong chức Giám mục cho các linh mục bản xứ. Được Tòa thánh ngỏ ý chấp nhận lập tòa Khâm sứ, cụ đã cho đất cũng như dựng nhà. Tòa này đặt tại Giáo xứ Phủ Cam. Vị Khâm mạng/Khâm sứ Tòa thánh tiên khởi là Đức Cha Constantino Ajuti, người Ý. Đến năm 1951, tòa chuyển ra Hà Nội, và tòa cũ biến thành sở dòng Mến Thánh Giá Khâm Mạng.

  Cùng với Ðức Cha Allys, Ðức Khâm sứ Ayuti đã có sáng kiến thành lập một nguyệt san cho các Linh mục mang tên SACERDOS INDOSINENSIS (Linh mục Đông Dương) năm 1927. Các linh mục chủ bút kế tục nhau: Léopold Michel Cadière (cố Cả), MEP. (1927). François Lemasle (cố Lễ), MEP. (1928-1935). Hồ Ngọc Cẩn (1935). Ngô Ðình Thục (1935-1938). Trần Văn Phát (1938-1940). Nguyễn Khắc Ngữ (1940-1944). Tòa soạn : Tòa Khâm sứ Ðông Dương tại Phủ Cam. Phát hành số 1-2-3 ngày 19-03-1927 và sau 17 năm hoạt động, nguyệt san đình bản vào năm 1944.

5. Sự tán dương khen thưởng của đời lẫn đạo

  Các đức tính tốt đẹp của Đức Cha Allys: vẻ duyên dáng khi nói chuyện, nét đơn sơ dễ mến trong cư xử, đức tận tụy hoàn toàn cho người Việt cũng như cho đồng hương Pháp, những việc phục vụ nổi tiếng ngài đã thực hiện cho hai chính phủ trong nhiều trường hợp khác nhau đã khiến nhà chức trách Việt lẫn Pháp chú ý tới ngài.

Theo đề nghị của Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut, Đức Cha Allys đã được đề bạt tặng Bắc Đẩu Bội Tinh Đệ Ngũ Đẳng (Chevalier de la Légion d’honneur) do sắc lệnh ký ngày 05/02/1921. Ngày 14 tháng 07 cùng năm, ông Pierre Pasquier, hồi đó làm Khâm sứ tại An Nam, long trọng gắn huy chương này cho ngài trước sự hiện diện của hoàng đế An Nam và cả triều đình, tại cửa chính Hoàng thành (Ngọ Môn), ngay nơi mà 90 năm về trước, vào ngày 30/11/1835, Thánh Joseph MarChand (Du), chịu kết án khổ hình bá đao, đã bị dẫn tới diện kiến hoàng đế Minh Mạng trước khi đi đến ngọn đồi gần kinh thành để chịu hành hình vài giờ sau đó.

Cũng chính năm 1921 này, ngày 16 tháng 4, vua Khải Định đã trao tặng Đức Cha Allys Kim Khánh ngoại hạng (hors classe), sự trọng vọng cao nhất của vương quốc chỉ ban cho những nhân vật cao cấp. Sự trọng vọng còn tỏ ra qua việc phái 3 sứ giả đến tòa Giám mục để trao.

Bốn năm sau, vào năm 1925, dịp lễ vàng (Kim Khánh) linh mục, vị Giám chức đáng kính đã được ban Nam Long Bội Tinh (hay Đại Nam Long Tinh) Đệ Nhị Đẳng (Grand Officier du Dragon d’Annam) của triều Nguyễn và nhận từ Đức Thánh Cha Piô XI tước hiệu “Phụ tá Ngai Giáo hoàng” (Assistant au Trône pontifical).

Cuộc lễ mừng Kim khánh linh mục này thật huy hoàng rực rỡ. Cảnh “cor unum et anima una” (đồng tâm nhất trí) của sách Tông Đồ Công Vụ đã được thể hiện giữa những người Pháp và người Việt để mang lại cho lễ Kim khánh những dấu chỉ mến chuộng rất xứng với Đức Cha. Khâm sứ Pasquier đã lợi dụng cơ hội này để mô tả, qua một diễn văn hấp dẫn, diện mạo đích thực của vị Đại diện Tông tòa: “Khi Chính phủ Cộng hoà, ông nói, gắn lên chiếc áo tím của ngài chấm đỏ của Bắc Đẩu Bội Tinh, đó là muốn tưởng thưởng nơi ngài những đức tính mạnh mẽ và vững chắc… Những đức tính ấy, ngài đang mang theo phong cách Pháp với một lòng gan dạ chẳng bao giờ mất đi nụ cười, với một sự nhiệt tình đi đến chỗ mãnh liệt, với một tính lạc quan thổi lên mọi ngọn lửa chập chờn…

Trong bài tường thuật các cuộc lễ này xuất hiện trên tập san của Hội Thừa sai Hải ngoại tháng 12 năm 1925, người viết thời luận đã biểu lộ ước mong Miền truyền giáo có thể cử hành Ngọc Khánh Linh mục của vị Bề trên đáng kính của mình vào năm 1935. Ước mong này đã được thực hiện, nhưng lúc đó Đức Cha Allys không còn lãnh đạo Giáo phận. Hầu như bị mù, ngài buộc phải từ chức Đại diện Tông toà vào năm 1931 và trao quyền cai quản Miền truyền giáo cho Giám mục phó là Paul Chabanon. Dù vậy, dưới sự điều khiển của Đức Cha Paul, toàn Giáo phận đã mừng lễ ngọc của Đức Cha già rất long trọng ngày 13/10/1935[13].

6. Những năm tháng cuối đời

Năm 1931, Đức Cha Allys phải nghỉ hưu vì mắt bị mù hẳn. Khuyết tật này gây khó khăn nặng nhọc cho ngài: “Chúa nhân lành, ngài nói, đã không thể gửi cho tôi một thập giá nào nặng hơn”; nhưng ngài đã chịu đựng nó cách kiên cường và bình thản.

Trong 5 năm hưu dưỡng, ngài trở thành một một tấm gương đạo đức tuyệt vời đối với mọi linh mục Miền truyền giáo Huế. Cũng như trong quá khứ, cửa phòng ngài luôn rộng mở cho mọi khách thăm. Những lúc rảnh rỗi, ngài đi đến nguyện đường để thờ lạy Chúa Giêsu Thánh Thể và trình bày với Chúa những nhu cầu của Hội Thừa sai và của Miền truyền giáo.

 Vào đầu tháng 4 năm 1936, vị Giám chức đáng kính có vẻ mệt hơn thường lệ và cuộc lữ hành trần thế của ngài xem ra sắp phải kết thúc. Thế nên, thứ Năm Tuần Thánh ngày 09 tháng tư, Đức Cha Chabanon ban phép Xức dầu kẻ liệt cho ngài. Cuối các kinh nguyện, bệnh nhân rất đáng kính đã xin mọi linh mục của mình tha cho nhiều lầm lỗi mình đã phạm đến họ. Rồi 14 hôm sau (23-04-1936), vào buổi sáng ngày mất, ngài được niềm an ủi nhận ra người bạn cũ của mình là Đức Cha Alexandre Marcou (Thành, nguyên Đại diện Tông tòa, Giám mục tiên khởi Phát Diệm) và hai bên còn có thể chuyện vãn vài giây lát với nhau. Năm tiếng sau, vào lúc 11 giờ, ngài nhẹ nhàng lịm dần, trước sự chứng kiến của Đức nguyên Đại diện Tông tòa Phát Diệm, Cha François Lemasle, quyền đại diện (Giám mục tương lai) và Cha Pierre Etchebarne (Chế), quản lý Miền truyền giáo, thọ 84 tuổi, 33 năm linh mục, 28 năm Giám mục. Đức Cha Chabanon, bản thân bệnh nặng, buộc phải lên đường đi Tourane (Đà Nẵng) ngày hôm sau, 24-04 để đáp tàu “Cap Varella” về Pháp chữa bệnh và đành phải hy sinh không dự được lễ an táng vị tiền nhiệm. Ngài qua đời tại Marseille ngày 04/6/1936.

Tang lễ Đức Cha già Lý đã diễn ra ngày thứ hai 27/4. Đơn sơ như ngài đã yêu cầu: “không vòng hoa, không diễn từ, không đội chào danh dự”. Nhưng sự hiện diện của 5 vị Giám mục : Marcou, Ange-Marie Gouin, Augustin Tardieu, Martial Jannin và Hồ Ngọc Cẩn, nhiều linh mục thừa sai và bản xứ, mà nhiều vị đến từ các Giáo phận khác của Việt Nam ; sự hiện diện của nhà chức trách dân sự lẫn quân sự, của tất cả các thượng thư Triều đình và nhiều nhân vật quan trọng người Việt, đã mang lại cho nghi lễ ấy một dấu ấn hết sức long trọng và trầm lắng, thực xứng với “vị Giám mục và người Pháp lớn lao này, mà cả Đông Dương nghiêng mình cung kính tưởng niệm” như lời Toàn quyền Đông Dương Robin đã viết cho Bề trên Miền truyền giáo[14]. Riêng chí sĩ cách mạng Phan Bội Châu, bạn của Đức Cha Allys và Cha Giuse Nguyễn Văn Thích, lúc bấy giờ bị giam lỏng ở Bến Ngự, đã viết bài văn tế khóc Đức Cha, ký tên Sào Nam. Bài văn tế hết sức cảm động và bi hùng này được đăng trong báo Tiếng Dân số 913, năm thứ 10, ngày 23/5/1936.[15]

Di hài của ngài sau đó an nghỉ trong một nghĩa trang khiêm tốn, dưới bóng nhà thờ chính toà Phủ Cam mà ngài đã xây dựng, ở giữa những giáo dân giáo xứ mà ngài từng biết bao thương mến và từ đó ngày nào cũng đến bên mộ ngài để cầu nguyện cho linh hồn ngài được nghỉ yên, hay thậm chí để xin nhiều ơn huệ với đấng mà họ tôn sùng như một vị thánh. Tên ngài cũng được đặt cho trường tiểu học của giáo xứ (trường An Lý) nằm ngay bên cạnh nhà thờ Phủ Cam (hình như tồn tại đến năm 1968). Năm 1986, hài cốt Đức Cha được cải táng về nghĩa trang Thiên Thai, nằm ở chóp đỉnh khu mộ của linh mục đoàn Tổng Giáo phận Huế.

Vài hàng kết luận

Nhìn lại thân thế và sự nghiệp cùa Đức Giám mục Eugène Marie-Joseph Allys, rồi đối chiếu với cuộc đời 15 đấng bản quyền khác của Giáo phận Huế : Đức GM Étienne Cuénot Thể, Đức GM François Pellerin, Đức GM Joseph Sohier, Đức GM Martin Pontvianne, Đức GM Antoine Caspar, Đức GM Paul Chabanon, Đức GM François Lemasle, Đức GM Jean-Baptiste Urrutia, Đức TGM Phêrô Máctinô Ngô Đình Thục, Đức TGM Philipphê Nguyễn Kim Điền, Đức Giám quản HY Giuse Maria Trịnh Văn Căn, Đức GQ Giacôbê Lê Văn Mẫn, Đức TGM Têphanô Nguyễn Như Thể, Đức TGM Phanxicô Xavie Lê Văn Hồng, Đức TGM Giuse Nguyễn Chí Linh, có thể cho rằng Đức Cha Allys là vị mục tử số một của Giáo phận.

Trước hết, trong tư cách quản xứ, quản hạt rồi Đại diện Tông tòa (Giám mục), Đức Cha đã luôn là con người thu phục được lòng mến yêu chân thành và sự hợp tác nồng nhiệt của mọi kẻ thuộc quyền, từ các Cha phó rồi các Cha sở, các tu sĩ và các giáo dân, đặc biệt hai giáo dân kiệt xuất, hai cựu chủng sinh thời danh, hai công thần yêu nước nổi bật là Thượng thư Micae Ngô Đình Khả và Thượng thư Nguyễn Hữu Bài.

Với uy quyền của một quản hạt rồi Giám mục Giáo phận, ngài đã thực thi một chương trình truyền giáo đầy hiệu quả: không những khôi phục mà còn tăng gấp ba con số giáo dân hao hụt vì Văn Thân bách hại; đã thiết lập thêm nhiều giáo xứ mới, nằm trên các lục lộ, thiết lộ, thủy lộ chính, thập phần thuận lợi, mà đa phần vẫn còn tồn tại đến hôm nay; đã dẫn đến đức tin chẳng những thường dân mà cả thành phần quý tộc trong xã hội.

Với tầm nhìn bao quát và sâu sắc của một chủ chăn, ngài một mặt thiết lập hay hỗ trợ thiết lập nhiều dòng tu chuyên giáo dục và lo truyền giáo, giảng đại phúc và giúp cấm phòng; mặt khác mời gọi hay góp công hình thành nhiều dòng tu sống hy sinh, chăm cầu nguyện để gia tăng hiệu quả cho việc loan báo Tin Mừng, Bên cạnh đó, ngài còn cho xây dựng nhiều cơ sở tại những địa điểm thuận lợi ngõ hầu chạy tốt bộ máy điều hành toàn Giáo phận nhà.

Sống và hoạt động giữa một thời nhiễu nhương ly loạn : đạo bị triều đình nghi ky, Văn Thân thù ghét, nhà nước thực dân phá hoại ngầm (bè Tam điểm), Đức Cha vẫn mãi là con người của những giá trị vĩnh cửu, của nền luân lý siêu việt, của đức ái toàn hảo, như khẩu hiệu giám mục của Đức Cha: “Tôi yêu hết mọi người”. Chính vì thế ngài được sự nể trọng và tôn kính, thậm chí tán dương và ca tụng của chính quyền nước Pháp, triều đình nhà Nguyễn, chí sĩ cách mạng, chưa kể hàng lãnh đạo Giáo hội hoàn vũ và địa phương cũng như quần chúng lương dân, vốn gọi ngài là “ông tiên bên đạo”.

Đối với việc rao giảng Tin Mừng, mở mang Nước Chúa, thời đại nào, hoàn cảnh nào cũng hàm chứa những trợ lực và trở lực. Nhưng các vị tông đồ kiệt xuất, trong đó có Đức Cha Allys, đã luôn biết biến trở lực thành trợ lực, nhờ ân sủng Thiên Chúa và ý chí bản thân.

 Huế, ngày 31/12/2023

Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi

Trưởng ban Biên sử Giáo phận Huế

[1] Trích Báo cáo Thường niên năm 1885 của ĐC Caspar gởi sang Hội Thừa sai Hải ngoại Paris.

[2] Kỷ yếu 170 năm thành lập Tổng Giáo phận Huế 1850-2020, lưu hành nội bộ, tr. 234-235.

[3] Xem Báo cáo Thường niên 1893 của ĐGM  Antoine Caspar gởi Hội Thừa sai Paris.

[4] Les Missions Catholiques, No 2764, 2 Juin 1922, p. 253-254.

[5] Archives des MEP, Compte-rendu 1919-1920.

[6] Xem Đức Cha Eugène Marie Joseph Allys, Đấng Tổ phụ Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm Phú Xuân-Huế. Ấn phẩm kỷ niệm 100 năm thành lập Hội Dòng 08/09/1920-2020, trang 91-97.

[7] Hội dòng các Tu sĩ Giáo dục Công giáo Ploërmel do Đấng Đáng kính Jean-Marie de La Mennais (hay Lamennais) thành lập năm 1850 ở xứ Bretagne, Tây Bắc nước Pháp, quê hương của Đức Cha. Thời niên thiếu, Đức Cha đã theo học tại trường của dòng này.

[8] Di ngôn Cha Biển Đức Thuận, Đấng sáng lập Hội dòng Xitô Thánh Gia. Lưu hành nội bộ, trang 21.

[9] Hạnh tích Cha Benoit (R. P. Henri Denis Cố Thuận), Tổ phụ Hội dòng Xitô Thánh Gia Việt Nam, tr.104.

[10] Đức Cha Eugène Marie-Joseph Allys, Đấng Tổ phụ Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm Phú Xuân-Huế. Ấn phẩm kỷ niệm 100 năm thành lập Hội dòng 08/09/1920-2020, trang 118-119.

[11] Tuy sống tới năm 1936, nhưng từ năm 1931, bị mù mắt, ngài phải nhường chức cho Đức GM Phó Paul Chabanon.

[12] Đức Cha Eugène Marie-Joseph Allys, Đấng Tổ phụ Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm Phú Xuân-Huế, trang 34-35.

[13] Đức Cha Eugène Marie-Joseph Allys, Đấng Tổ phụ Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm Phú Xuân-Huế, trang 37-41.

[14] Xem https://irfa.paris/missionnaire/1272-allys-eugene/

[15] Đức Cha Eugène Marie-Joseph Allys, Đấng Tổ phụ Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm Phú Xuân-Huế. Trang 73-75. Trước khi qua đời (29-12-1940), viết trên báo Vì Chúa (số 152, ngày 18-02-1940), Cụ Phan ao ước cả dân tộc Việt Nam đều trở lại Công giáo và khi đó, theo Cụ, đất nước Việt Nam sẽ sáng tươi, http://www.tinconggiao24h.com/2023/11/cu-phan-boi-Chau-voi-ong-bao-cong-giao.html#google_vignette). Có câu chuyện cho rằng lúc lâm chung, cụ Phan đã nhờ gia đình đi mời Cha Nguyễn Văn Thích đến cho mình gặp. Tiếc rằng lúc đó vị linh mục thi sĩ không có mặt tại Huế.

Bài viết liên quan

Đức cha Eugène-Marie-Joseph Allys : Chứng tá sống động của Tin Mừng giữa lòng Hội Thánh Việt Nam

Nhìn vào cuộc đời của Đức cha Eugène-Marie-Joseph Allys, chúng ta có thể nhận ra...

Đài tưởng niệm Đức Cha Allys ở Paimpont – Le Cannée, Pháp

Bản tin Echo de Paimpont đã loan báo trong số tháng 10 năm 1950 rằng:...

Trên mảnh đất Cố Đô ngày mùng chín tháng mười năm đó….

“ Mọi sự đều sinh ích cho những ai yêu mến Người” ( Rm 8,...

Lễ giỗ lần thứ 89 của Đức Cha Eugène Marie Joseph Allys và Ngày Hành Hương Năm Thánh

Vào lúc 14h30 ngày 28/4, gia đình đình Linh tông của Đức Cha Eugène Marie...

Bên di ảnh Cha

Bên di ảnh của Cha. Tưởng nhớ Cha với áng hương trầm cũng là áng...

Nụ cười khả ái của Cha

Đức cha Eugène Marie Joseph Allys được biết đến là một vị mục tử xuất...