Kitô hữu nói chung, Đức Cha Allys nói riêng, khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội đều mang trong mình sứ vụ cao cả là trở thành môn đệ Chúa Kitô và tháp nhập vào Ngài trong sứ mạng truyền giáo. Vậy, hạn từ “môn đệ Chúa Kitô” nghĩa là gì? Đức Cha Allys đã vận dụng phương thức nào, hiệu quả ra sao trong công cuộc truyền giáo tại mảnh đất kinh đô này?
Đức Cha Allys, Người Môn Đệ Chúa Kitô
Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “môn” nghĩa là cửa, “đệ” nghĩa là em, là học trò. Hai từ này (môn đệ) có nghĩa là học trò của một người thầy. Học theo một vị thầy là bước vào một “cửa”, mà cửa chính là vị thầy đó. Theo nghĩa này, Đức Cha Allys theo Chúa Kitô là người bước vào “Cửa” – Cửa ấy chính là Chúa Kitô. Môn đệ của Chúa là người thụ giáo và chuyên tâm thực hiện những lệnh truyền của Người: “Chúa Giêsu chỉ định bảy mươi hai môn đệ khác và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến” (Lc 10,1). Đức Cha Allys đã đáp trả tiếng gọi và bước vào “Cánh Cửa Tình Yêu”, nơi đây, Thiên Chúa muốn ngài mạnh dạn mang lấy Trái Tim chịu tổn thương để hòa quyện với những trái tim đang lạc nhịp giữa dòng đời trôi nổi.
Người môn đệ là người bước theo Đức Kitô để phục vụ chương trình cứu độ của Đức Kitô. Đức Cha Allys từ bỏ tất cả, từ bỏ để đi vào mối liên kết mật thiết với Đấng kêu gọi ngài và ngài trở thành công cụ để Chúa sử dụng theo ý muốn. Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu đòi hỏi khá nhiều về lệnh truyền từ bỏ đối với người được tuyển chọn. Lời của Chúa thật dứt khoát và rõ ràng: “Nếu ai muốn là môn đệ Thầy, thì hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16, 24). Chúa cũng đã khẳng định: “Ai không từ bỏ tất cả những gì mình có, sẽ không thể là môn đệ Thầy ” (Lc 14, 33).
Thật vậy, khi sai Đức Cha Allys đi rao giảng Tin Mừng, Chúa muốn nói với ngài về lòng tin tuyệt đối vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Cách nào đó, Đức Cha Allys cũng thuộc số các môn đệ được Chúa sai đi bằng “tay không”. Chúa không ra lệnh cho họ đến các Hội đường hay các ngã ba ngã tư để rao giảng, nhưng là đến từng nhà và hội nhập vào đó, hiện diện như một phần tử trong gia đình, ăn những gì người ta dọn cho. Nhờ đó, Tin Mừng được đón nhận cách dễ dàng hơn, bởi vì Tin Mừng không còn là sức mạnh áp đặt từ bên ngoài, mà là sức mạnh của người rao giảng truyền sang cho những người khác, nhằm bén rễ sâu trong lòng con dân xứ Huế.
“Đức Kitô đã sai tôi đi rao giảng Tin Mừng, và rao giảng không phải bằng lời lẽ khôn khéo, để thập giá Đức Kitô khỏi trở nên vô hiệu” (1 Cr.1,17b). Thật kì lạ khi Đức Cha Allys từ chối tất cả “lí luận cao siêu” để trình bày Tin Mừng cho người đương thời về một đời sống chứng tá “nghèo khó”. Thật phù hợp với Tông huấn Evangelii Gaudium, số 35, Đức Thánh cha Phanxicô viết: “Chúng ta làm cho sứ điệp trở nên đơn giản, nhưng đồng thời không làm mất sự thâm sâu và chân lí của nó, nhờ đó nó càng trở nên mạnh mẽ và có sức thuyết phục”. Thiết nghĩ, việc Đức Cha Allys không thể đào sâu nội dung chỉ dẫn trên, nhưng những suy tư và cách thế truyền bá Tin Mừng trước đó của Đức Cha phù hợp với thời đại của Tân Phúc âm hóa, của truyền thông xã hội và cả ý nghĩa thực tiễn của Giáo phận Huế lúc bấy giờ. Điều này, có thế nói Đức Cha Allys đã áp dụng cách triệt để cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng hạn từ “Phúc Âm hóa” qua cuộc đời và sứ vụ của ngài.
Đức Cha Allys, Con Người Của Sứ Mạng Truyền Giáo
Trong thực tế đời sống, có nhiều người khát khao đi tìm cho mình một môi trường sống yên bình, tiện nghi nhằm thăng tiến bản thân và nâng cao đời sống gia đình, xã hội. “Miền đất hứa” là khát vọng của những làn sóng di dân, nơi đó họ tìm kiếm cho mình một lối sống thoải mái, một kho tàng kiến thức phát triển và một môi trường làm việc hợp với khả năng… Ngược lại, vị linh mục trẻ Allys lại mang trong mình bầu nhiệt huyết truyền giáo đến những miền đất xa xôi, khó nghèo và chậm phát triển để rắc gieo Tin Mừng cứu độ.
Bản chất của Giáo hội là truyền giáo, vì thế hơn ai hết, Đức Cha Allys là hiện thân tiêu biểu của sứ vụ truyền giáo. Ngài là môn đệ được tuyển chọn để được sai đi chứ không phải để “cắm” cuộc đời của mình ở một nơi chốn cố định. Điều này, phù hợp với lời mời gọi ngày nay của Đức Thánh cha Phanxicô: “Cha muốn mọi người ra đi! Cha muốn Giáo Hội ra ngoài đường phố! … và linh mục không thể giữ cho mình bị đóng kín trong các giáo xứ, trong các cộng đoàn của chúng ta, khi rất nhiều người đang mong chờ Tin Mừng!… và linh mục hãy can đảm nhìn vào nhu cầu mục vụ, bắt đầu từ vùng ngoại ô, với những người ở xa nhất, với những người không thường xuyên đi nhà thờ…
Đức Cha Allys vốn là một nhà truyền giáo nhiệt tâm, nên ở cương vị hay ở hoàn cảnh nào, Đức Cha cũng luôn sống và xây dựng ý hướng truyền giáo, vì truyền giáo là hơi thở là nhịp đập trái tim của ngài. Hai mươi ba tuổi, ngài rời xa “kinh đô ánh sáng”, những phố thị phồn hoa và sầm uất để lên tàu đến với Việt Nam, đến kinh đô Huế thơ mộng. Nằm giữa dải đất cong hình chữ S đầy mưa dầm và gió nóng, Huế vẫn còn nhiều người nghèo về vật chất và nghèo cả về Đức tin. Tuy nhiên, Huế lại là một trong những cái nôi chính trị, giáo dục và giá trị văn hóa. Đồng thời, nơi đây tập trung nhiều tín đồ Phật giáo, Nho giáo và có rất nhiều lương dân chưa hoặc không muốn biết Chúa. Điều canh cánh trong lòng Đức Cha Allys là làm sao Tin Mừng của Chúa len lõi vào trong các tâm hồn khô khan vì chưa có Tin Mừng tưới gội và cả tầng lớp trí thức của triều đình. Điều này đòi hỏi Đức Cha phải tìm ra một hướng đi mới với một tầm nhìn mới cho việc tiếp cận và rao truyền Tin Mừng. Vậy, cách thế nào và đâu là những định hướng cơ bản của Đức Cha cho việc truyền giáo có hiệu quả?
Từ những nét chấm phá trong sử liệu của Mẹ Dòng viết về Đức Cha đáng kính, xin lược qua một số cách thế và hoa trái của việc truyền giáo mà Đức Cha Allys đã thực hiện. “Diligo Omnes” câu châm ngôn Giám mục của ngài nói lên tất cả. Đức Cha yêu thương mọi người theo gương Thầy Chí Thánh Giêsu: “Yêu đến cùng” (Ga.13,1). Tình yêu đó được cụ thể hóa bằng các hành động:
Truyền giáo bằng sự hiền lành
Hiền lành một nhân đức được thể hiện một cách hết sức rõ ràng nơi ngài đến nỗi người bên lương tặng cho ngài biệt danh hết sức dễ thương: “Ông tiên bên đạo”, hay “Giám mục mỉm cười”. Con người và tính cách vui vẻ cởi mở của ngài rất thích hợp cho việc truyền giáo. Ngài tiếp xúc với mọi hạng người một cách hồn nhiên và đầy lòng kính trọng yêu mến. Ngài yêu mến và muốn cho mọi người được cứu rỗi, được nhận biết Chúa. Đó là động lực đức ái phát xuất từ Thiên Chúa. Dù triều đình Việt Nam cấm cách bắt bớ, ngài vẫn tìm cơ hội truyền giáo cho họ, nhờ thế một công chúa, cháu vua Minh Mạng đã trở lại đạo Công giáo. Sau đó hai hoàng tử khác cũng trở lại và bị kết án tử hình. Nhưng Đức Cha đã can thiệp để được giảm kinh từ án tử hình đến lưu đày, và cuối cùng được gia ân. Một số vị quan trong triều đình cũng tiếp tục chọn con đường theo Chúa. Đồng thời, số người lương dân trở lại đạo càng ngày càng đông…
Truyền giáo bằng sự quan tâm đến các dự tòng và tân tòng
Ngài luôn quan tâm đến việc làm cho người lương theo đạo, tìm những trẻ em bị bỏ rơi hoặc sắp chết để rửa tội. Ngài khuyến khích các linh mục đi đến với lương dân. Ngài cung cấp tiền bạc, phương tiện dồi dào cho việc giảng dạy cho các dự tòng, tân tòng, thành lập các giáo xứ mới, xây các nhà nguyện và nhà thờ…
Ngài không tiếc tiền bạc trong việc truyền giáo. Ngài nói:“Nếu phải tốn 1.000 đồng để cho vài ba trẻ em được chắc chắn lên Thiên Đàng thì không đáng làm như vậy sao?”. Các linh mục chăm sóc tân tòng thường được ngài hỗ trợ nhiều về tài chính vì ngài biết họ phải chi phí nhiều.
Truyền giáo bằng cầu nguyện, hy sinh
Đức Cha tin tưởng vào sức mạnh của lời cầu nguyện và sự hy sinh trong công cuộc truyền giáo, thỉnh thoảng ngài kêu gọi các nữ tu ăn chay cầu nguyện để xin ơn trở lại cho người nọ người kia. Ngài còn bảo trợ việc thiết lập hai đan viện Carmel và Phước Sơn để làm hậu thuẫn cho công cuộc truyền giáo. Thời gian hưu trí của ngài cũng là những chuỗi ngày hy sinh cầu nguyện cho việc mở mang Nước Chúa. Ngài thường nói: “Điều quan trọng là cầu nguyện và chịu đau khổ”.
Dòng Thánh Tâm Huế Tiếp Nối Tinh Thần Của Đức Cha
Đức Cha Allys luôn canh cánh bên lòng mối ưu tư về lớp trẻ cần được giáo dục về đức tin và văn hóa. Khi bão tố cấm cách đã tạm yên, Đức Cha thấy Giáo phận Huế có nhiều trường giáo xứ hơn nhưng thiếu các giáo viên được huấn luyện chu đáo. Nhiều trẻ em không được đến trường, một số khác được đến trường nhưng lại là trường do các giáo viên bên lương điều khiển, họ thường xuyên chống đối Giáo hội. Vì vậy, ngài thao thức mở trường tư thục, và thành lập hai Hội Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm và Dòng Thánh Tâm Huế.
Ngày nay, theo gương Đấng Sáng lập, mọi thành viên của Dòng Thánh Tâm Huế cũng “nặng lòng” với việc truyền giáo. Mỗi người luôn ý thức hoà nhịp đập với công cuộc truyền giáo của Giáo hội hoàn vũ và Giáo hội địa phương. Vì truyền giáo là sứ mạng và vì lý do này mà Dòng hình thành, tồn tại và phát triển. Ban Quản Trị Dòng đã chú tâm đến việc đào tạo các chuyên viên cung cấp cho cánh đồng truyền giáo, mở rộng phạm vi và đối tượng truyền giáo. Mời gọi một số tu sĩ dấn thân học ngôn ngữ dân tộc thiểu số để thuận lợi hơn cho sứ mạng sau này. Dòng đã gửi các linh mục đến các vùng Gia Lai, Khe Sanh, A Lưới, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai, Yên Bái,.. để truyền giáo. Ngoài ra, Dòng đã tạo điều kiện và kêu gọi để chính anh em sắc tộc đến tu, và hiện nay đã có một số em sắc tộc vào tìm hiểu và tu tại Dòng, như: Bênêdictô Ơm, Ksol Luy, Apil, A Thoan, Hồ Tình…
Tạm kết
Xin mượn lời bài hát: “Hãy đến vùng ngoại biên” để chia sẻ con đường đem Chúa đến cho mọi người: “Đừng đứng trên ban công, mà nhìn cuộc đời; Đừng lướt trên Iphone, mà nhìn mọi người; Đừng nói câu yêu thương bằng miệng bằng lời; nhưng bước xuống và hãy đến, hãy đến những vùng ngoại biên”.
Anh em Thánh Tâm ta là những tu sĩ, sứ giả của Thánh Tâm Tình Yêu, chúng ta phải biết hành động và sống trọn thánh ý Chúa nhất là yêu thương mọi người như tinh thần của Đấng Sáng lập: “Tôi yêu thương mọi người”. Quả thật, nếu chúng ta đem so sánh công cuộc truyền giáo của Đức Cha Allys ví như một bản nhạc thì người nhạc trưởng chính là Chúa Thánh Thần. Ngài đã khơi lên lòng nhiệt huyết của ngọn lửa truyền giáo trong lòng Đức cha. Từ đó, Lời Chúa được bén rễ và sinh hoa trái trên những bước chân mà Đức Cha đã đến, và lời mời gọi của Chúa Giêsu “Hãy đi giảng dạy muôn dân” (Mt 28,19), cũng như ý hướng truyền giáo của Đấng sáng lập vẫn đang vang vọng trong lòng anh em Thánh Tâm để các thế hệ tiếp tục dấn thân cho công cuộc đem Chúa đến với mọi người.
Ga. Nguyễn Viết Bảy, CSC


Bài viết liên quan
Bài hát: Cầu cho Đức Tổ Phụ (Kỷ niệm sinh nhật 90 năm về trời của Đức cha Allys)
Đức tổ phụ kính yêu, một người cha thánh thiện khiêm tốn. Cha mến yêu...
Đức Giám mục Eugène Marie Joseph Allys, mục tử số một của Giáo phận Huế
Đức Giám Mục EUGÈNE MARIE JOSEPH ALLYS sinh ngày 12/02/1852 tại giáo xứ Paimpont, Giáo...
Đức Tổng Giám mục Giuse kinh lý Dòng Thánh Tâm Huế
Trong bầu khí của Mùa Phục sinh, Nhà Dòng đang hướng đến kỷ niệm 90...
Đức cha Eugène-Marie-Joseph Allys : Chứng tá sống động của Tin Mừng giữa lòng Hội Thánh Việt Nam
Nhìn vào cuộc đời của Đức cha Eugène-Marie-Joseph Allys, chúng ta có thể nhận ra...
Đài tưởng niệm Đức Cha Allys ở Paimpont – Le Cannée, Pháp
Bản tin Echo de Paimpont đã loan báo trong số tháng 10 năm 1950 rằng:...
Thứ Bảy Tuần Thánh 2026: Đêm Canh Thức Vượt Qua tại Dòng Thánh Tâm Huế
Vào lúc 20h, thứ Bảy ngày 04/4/2026, Đêm Canh Thức Vượt Qua đã diễn ra...